|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/KDTM-PT Ngày: 06/02/2025 V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Điều Văn Hằng;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phan Nam;
Ông Phạm Văn Lợi.
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thanh Huyền – Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Nguyễn Huy Hoàng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh, thương mại phúc thẩm thụ lý số 34/2024/TLPT-KDTM ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 04/2024/KDTM-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 606/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B1 (nay là Ngân hàng TMCP L4).
- Địa chỉ: Tầng A, 3, 4, 5, 6 Tòa nhà T, số B T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Doãn S – Tổng Giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Việt S1 – Giám đốc Ngân hàng TMCP B1 (nay là Ngân hàng TMCP L4), chi nhánh B2; có mặt.
- - Bị đơn: Ông Lê Xuân L, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1976; địa chỉ: Xóm N, khu P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị M: Ông Lê Xuân L, sinh năm 1971; địa chỉ: Xóm N, khu P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1. Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1958; địa chỉ: Thôn H, xã H, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Đỗ Văn T: Ông Vũ Văn D, sinh năm 1962; địa chỉ: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt xin hoãn phiên tòa.
- 2. Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1962; địa chỉ: Khu phố A, Y, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn L1: Ông Vũ Văn D, sinh năm 1962; địa chỉ: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt xin hoãn phiên tòa.
- 3. Ông Lê Xuân C, sinh năm 1963 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1967; địa chỉ: Số A, ngõ R, phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt xin hoãn phiên tòa.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Xuân C: Ông Vũ Văn D, sinh năm 1962; địa chỉ: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt xin hoãn phiên tòa.
- 4. Chị Lê Thị T2, sinh năm 1990; địa chỉ: Khu phố A, Y, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
- 5. Anh Nguyễn Tá L2, sinh năm 1986; địa chỉ: P, Tòa nhà S, số D, đường B, phường T, thành phố M, T, Nhật Bản; vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Tá L2: Chị Lê Thị T2, sinh năm 1990; địa chỉ: Khu phố A, Y, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 25/12/2014, Ngân hàng thương mại cổ phần B1 (nay là Ngân hàng TMCP L4), (sau đây gọi tắt là ngân hàng) có ký với ông Lê Xuân L, bà Nguyễn Thị Mai M1 hợp đồng tín dụng số 130.0498/2014/HĐTD- LPBNN và phụ lục hợp đồng số 130.0498/2014/HĐ TD- LPBNN- 01 ngày 29/12/2014; phụ lục hợp đồng tín dụng số 130.0498/HĐTD- LPBBN/PL- 02 ngày 12/01/2015; phụ lục hợp đồng tín dụng số 130.0498/2014/HĐTD- LPBNN/PL- 03 ngày 19/3/2015. Theo nội dung của hợp đồng tín dụng này thì ngân hàng đồng ý cho ông L, bà M số tiền 3.000.000.000đ, trong đó hạn mức sử dụng ngay 2.972.900.000đ; thời hạn vay 12 tháng; mục đích sử dụng vốn vay: bổ sung vốn kinh doanh gỗ và sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ.
Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng ngân hàng đã giải ngân cho ông L, bà M số tiền 2.972.900.000đ theo khế ước nhận nợ số 02/2015/LEXUANLOI ngày 20/3/2015; khế ước nhận nợ số 03/2015/LEXUANLOI ngày 09/7/2015 và khế ước nhận nợ số 04/2015/LEXUANLOI ngày 21/7/2015.
Để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng nêu trên thì ngân hàng đã ký các hợp đồng thế chấp, cụ thể như sau:
- - Hợp đồng thế chấp thứ nhất: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 300.0422 ký ngày 06/12/2013 giữa ngân hàng với ông Lê Xuân L, bà Nguyễn Thị M. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 2P, diện tích 250m² tại thôn P, xã P, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (nay là khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh). Thửa đất được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 499303 ngày 18/4/2007 mang tên ông Lê Xuân L và phụ lục hợp đồng thế chấp số 300.0422 ngày 25/12/2014.
- - Hợp đồng thế chấp thứ hai: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 130.0310 ký ngày 29/12/2014 giữa ngân hàng với ông Đỗ Văn T, bà Nguyễn Thị V. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 34, tờ bản đồ số 26, diện tích 85m² tại phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 094699 ngày 28/11/2012 mang tên ông Đỗ Văn T và bà Nguyễn Thị V.
- - Hợp đồng thế chấp thứ ba: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 130.0016 ký ngày 12/01/2015 giữa ngân hàng với ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị B. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 4, tờ bản đồ số 9, diện tích 150,4m² tại khu phố Y, phường T, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân thị xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 948874 ngày 23/8/2011 mang tên ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị B.
- - Hợp đồng thế chấp thứ tư: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 130.0079 ký ngày 19/3/2015 giữa ngân hàng với ông Lê Xuân C, bà Trần Thị T1. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng là quyền sử dụng đất của thửa đất số 76, tờ bản đồ số 15, diện tích 36,3m² tại khu phố T, phường Đ, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân thị xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 318218 ngày 15/4/2011 mang tên ông Lê Xuân C.
Các hợp đồng thế chấp đều được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.
Sau khi nhận số tiền giải ngân của ngân hàng thì ông L, bà M đã trả cho ngân hàng được tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 02/10/2019 là 1.717.879.112đ trong đó tiền gốc là 1.669.901.190đ, tiền lãi 47.977.922đ. Sau đó, ông L, bà M không trả được nợ cho ngân hàng nữa mặc dù ngân hàng đã đôn đốc ông L, bà M rất nhiều lần nhưng ông L, bà M vẫn không trả nợ cho ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông L, bà M trả cho ngân hàng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/7/2024 là 4.191.626.208đ, trong đó nợ gốc: 1.300.098.810đ; lãi trong hạn: 1.886.887.295đ; lãi quá hạn: 1.044.640.103đ. Nếu ông L, bà M không trả được nợ cho ngân hàng thì đề nghị Tòa án tuyên ngân hàng có quyền đề nghị với cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm là:
- + Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 2P, diện tích 250m² tại thôn P, xã P, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (nay là khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh). Thửa đất được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 499303 ngày 18/4/2007 mang tên ông Lê Xuân L.
- + Quyền sử dụng là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 34, tờ bản đồ số 26, diện tích 85m² tại phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL 094699 ngày 28/11/2012 mang tên ông Đỗ Văn T và bà Nguyễn Thị V.
- + Quyền sử dụng là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 4, tờ bản đồ số 9, diện tích 150,4m² tại khu phố Y, phường T, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân thị xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 948874 ngày 23/8/2011 mang tên ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị B.
- + Quyền sử dụng là quyền sử dụng đất của thửa đất số 76, tờ bản đồ số 15, diện tích 36,3m² tại khu phố T, phường Đ, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân thị xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 318218 ngày 15/4/2011 mang tên ông Lê Xuân C.
Đồng thời, ngân hàng yêu cầu ông L, bà M phải tiếp tục trả tiền nợ lãi quá hạn, theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng trên số nợ gốc thực tế kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.
Bị đơn là ông Lê Xuân L đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà M trình bày: Ông không ký hợp đồng tín dụng nào với ngân hàng thương mại cổ phần B1 (nay là Ngân hàng TMCP L4) cả. Ông chỉ ký hợp đồng đáo hạn với ngân hàng. Bởi ông cho anh H ở P mượn sổ đỏ của ông để vay ngân hàng nên khi
anh H mang giấy tờ về bảo ông ký đáo hạn thì ký. Khi ký thì chỉ là tờ giấy trắng mà không có nội dung gì. Vì là anh em nên ông tin tưởng anh H và anh H có nói với ông sau ngân hàng sẽ về tận nhà làm.
Đối với hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng ông xác định đúng là chữ ký của ông. Tuy nhiên, ông không vay ngân hàng cũng không nhận được bất cứ số tiền nào từ ngân hàng C1. Việc ngân hàng giải ngân số tiền như trong hợp đồng tín dụng ông đã ký với ngân hàng cho ai thì ông không biết.
Nay ngân hàng yêu cầu vợ chồng ông trả cho ngân hàng TMCP B1 (nay là Ngân hàng TMCP L4) số tiền nợ gốc là 1.300.098.810đ, nợ lãi trong hạn 1.886.887.295đ, lãi quá hạn 1.004.640.103đ. Tổng cộng gốc và lãi: 4.191.626.208đ ông không đồng ý vì ông không vay và cũng không nhận được tiền.
Đối với những người đã ký hợp đồng thế chấp để đảm bảo khoản vay của ông theo hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng ông không biết họ là ai.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Vũ Văn D là người đại diện theo ủy quyền của ông T trình bày: Ông T và bố anh Lê Xuân H, sinh năm 1968 ở P, P, T, Bắc Ninh là thông gia với nhau. Do đó khoảng năm 2014, ông T, bà V có cho anh Lê Xuân H, sinh năm 1968 địa chỉ ở P, P, T, Bắc Ninh mượn một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi cho ông H mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh H có nói với ông T, bà V là anh mượn để vay vốn vì khi đó anh H đang làm giám đốc công ty TNHH H1. Vì quen biết nên cho mượn. Khi ông T, bà V cho ông H mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa hai bên không có giấy tờ gì. Sau đó, ông H có mang một số giấy tờ đến nhà bảo ông T, bà V ý thì ông T, bà V do quen biết nên cũng ký mà không đọc kỹ nội dung trong các giấy tờ mà ông H đưa cho ông T, bà V.
- Ông xác định chữ ký trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ký ngày 29/12/2014 giữa ngân hàng thương mại cổ phần B1 (nay là Ngân hàng TMCP L4) với ông T, bà V đúng là của ông T, bà V.
- Cho đến năm 2019 anh Lê Xuân H bị bắt. Ông T, bà V đã đến cơ quan công an làm việc và hiện nay tại cơ quan công an vẫn lưu trữ lời khai của ông T, bà V. Sau đó, ngân hàng khởi kiện ông L, bà M về tranh chấp hợp đồng tín dụng. Do sợ bị phát mại tài sản nên ông T, bà V đã nộp số tiền khoảng 700.000.000đ để ngân hàng giải chấp tài sản mà ông T, bà V đã ký hợp đồng thế chấp với ngân hàng ngày 29/12/2014.
- Nay ngân hàng khởi kiện, ông xác định ông T, bà V vẫn liên quan đến vụ án này. Vì ông T, bà V xác định hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đã ký giữa ông T, bà V với ngân hàng là không đúng quy định của pháp luật. Do đó, ông T, bà
- V đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đã ký giữa ông T, bà V với ngân hàng vô hiệu. Bởi khi ký hợp đồng thế chấp để bảo đảm cho khoản vay của ông L, bà M thì ông T, bà V không biết ông L, bà M là ai. Chỉ đến khi ngân hàng khởi kiện ra Tòa án thì ông T, bà V mới biết ông L, bà M.
- - Ông Vũ Văn D là người đại diện theo ủy quyền của ông C trình bày: Ông C và anh Lê Xuân H, sinh năm 1968 ở P, P, T là hai anh em ruột. Năm 2008, anh H thành lập công ty TNHH H1 và đã nhờ ông C đứng lên làm giám đốc.
- Do công ty cần vốn nên anh H có hỏi mượn ông C một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp vay vốn ngân hàng. Do là anh em nên ông C đã đồng ý cho ông H mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi mượn vì là anh em ruột thịt nên ông H và ông C cũng không có văn bản giấy tờ gì về việc cho mượn này.
- Sau khi cho ông H mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông H có mang các giấy tờ về cho ông C ký. Ông C đã ký vào các giấy tờ này tuy nhiên khi ký ông C tin tưởng anh H nên không đọc các nội dung trong các giấy tờ mà anh H mang về.
- Còn bà T1 không ký vào các giấy tờ này. Chữ ký Thoan trong các hợp đồng này do anh H nhờ bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1976 ở P, P, T, Bắc Ninh là vợ ông V1 em trai ông C ký vào.
- Cho đến năm 2019 anh Lê Xuân H bị bắt. Ông C đã đến cơ quan công an làm việc và hiện nay tại cơ quan công an vẫn lưu trữ lời khai của ông C. Nay ngân hàng khởi kiện ông L, bà M về tranh chấp hợp đồng tín dụng yêu cầu ông L, bà M trả cho ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng. Và đề nghị trong trường hợp ông L, bà M không trả được tiền cho ngân hàng thì ngân hàng được quyền phát mại các tài sản theo các hợp đồng thế chấp mà những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã ký với ngân hàng. Quan điểm của ông C, bà T1 là không đồng ý xử lý tài sản thế chấp mà ông C, bà T1 đã ký với ngân hàng. Vì hợp đồng thế chấp này không đúng quy định của pháp luật. Bởi bà T1 là đồng sử dụng thửa đất đã thế chấp cho ngân hàng nhưng bà T1 không biết việc ông C thế chấp cho ngân hàng cũng như không ký vào hợp đồng thế chấp này. Do đó, ông C đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất đã ký giữa ngân hàng với ông vô hiệu. Đề nghị Tòa án buộc ngân hàng trả lại cho gia đình ông một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 76, tờ bản đồ số 15 tại khu phố T, phường Đ, thị xã T (nay là thành phố T) mà ngân hàng đang giữ.
- - Ông Vũ Văn D là người đại diện theo ủy quyền của ông L1 trình bày: Ông L1, bà B với anh Lê Xuân H, sinh năm 1968 ở P, P, T, Bắc Ninh là bạn bè với nhau. Do đó khoảng năm 2015, anh H có hỏi ông L1 về việc cho anh H mượn
- giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L1. Khi hỏi mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L1 anh H có nói mục đích cho ông L1 biết là để thế chấp vay vốn vì anh H khi đó có công ty. Vì quan hệ quen biết nên ông L1 đã đồng ý cho anh H mượn. Khi cho anh H mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh H có viết giấy cho ông L1 với nội dung anh H có mượn ông L1 một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Sau khi mượn được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L1, ông H có mang một số giấy tờ đến nhà bảo ông L1 ký thì ông L1 đồng ý ký. Khi đó, bà B có ký vì ông L1 bảo ký. Khi ký vì ông L1 bảo ký thì bà B ký chứ mục đích làm gì thì bà B không biết. Khi ký, vợ chồng ông L1 không đọc nội dung trong các giấy tờ mà mình đã ký. Do là bạn bè nên tin tưởng. Ông xác định chữ ký trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ký ngày 12/01/2015 giữa ngân hàng với ông L1, bà B đúng là của ông L1, bà B.
- Cho đến năm 2019 anh Lê Xuân H bị bắt. Ông L1 đã đến cơ quan công an làm việc và hiện nay tại cơ quan công an vẫn lưu trữ lời khai của ông L1. Nay ngân hàng khởi kiện ông L, bà M về tranh chấp hợp đồng tín dụng và đề nghị nếu ông L, bà M không trả được nợ cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ phát mại tài sản mà ông L1, bà B đã ký hợp đồng thế chấp với ngân hàng. Quan điểm của ông L1, bà B là không đồng ý để ngân hàng phát mại tài sản của ông bà. Bởi khi ký hợp đồng thế chấp ông L1, bà B không biết nội dung hợp đồng là gì, ngân hàng không đến gặp gỡ, trao đổi với ông L1, bà B cùng các con cái. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông L1, bà B nhưng toàn bộ tài sản xây dựng trên đất là của con ông L1 là anh L2, chị T2 xây dựng nên.
- Năm 2012, anh L2, chị T2 là vợ chồng cùng nhau góp tiền để xây dựng một ngôi nhà ba tầng. Toàn bộ số tiền để xây dựng ngôi nhà này là của anh L2, chị T2. Do đó, trước khi ngân hàng ký hợp đồng thế chấp với ông L1, bà B đã không đi xem xét thẩm định nên không biết trên thửa đất ngân hàng nhận thế chấp đã có một ngôi nhà ba tầng. Do vậy, khi ký hợp đồng ngân hàng không để anh L2, chị T2 ký là đã ảnh hưởng đến quyền lợi của anh L2, chị T2.
- Do vậy, ông đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 130.0016 ký ngày 12/01/2015 giữa ông L1, bà B với ngân hàng V2 và ngân hàng phải trả cho ông L1, bà B giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ngân hàng đang giữ.
- - Chị Lê Thị T2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Tá L2 trình bày: Khoảng năm 2015, bố chồng chị là ông Nguyễn Văn L1 có cho anh Lê Xuân H tại P, P, T mượn một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích đất 150,4m² tại khu phố Y, phường T, T. Việc ông L1 cho anh H mượn hai vợ chồng chị không biết. Trên thửa đất bố chị cho anh H mượn giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất trước khi chị về làm dâu trên thửa đất có căn nhà cấp 4 đã xuống cấp. Sau đó, vợ chồng anh chị đã phá ngôi nhà cũ đi và xây dựng một ngôi nhà ba tầng trên thửa đất vào năm 2012.
Nay ông L1 nhận được đơn khởi kiện của ngân hàng về việc bảo lãnh thế chấp cho ông L, bà M. Việc thế chấp vay vốn cho ông L, bà M ông L1 bố chồng chị cũng như vợ chồng chị không được biết. Thửa đất hiện nay mang tên bố chồng chị chỉ là hình thức vì thửa đất đó là của cả hộ gia đình, tài sản trên đất là của vợ chồng chị. Chị đề nghị Tòa án xem xét lại hồ sơ vay vốn của ngân hàng với ông L, bà M đã đúng quy định hay chưa.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự không thống nhất được việc giải quyết vụ án.
Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 01/2024/KDTM-ST ngày 04 tháng 10 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định:
Căn cứ Điều 30, 34, 37, 38, 39, 117, 122. 131, 147, 148, 161, 227, 228, 271, 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015; Điều 90, 91, 94 và 95 Luật các tổ chức tín dụng; Các Điều 296, 317/ 318,463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; điểm c khoản 2 Điều 24 Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ -NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc ngân hàng N và Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 sửa đổi bổ sung một số điều Quyết định 1627; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B1 ( nay là Ngân hàng TMCP L4).
- T, phường Đ, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân thị xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 318218 ngày 15/4/2011 mang tên ông Lê Xuân C.
- Bác yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B1 ( nay là Ngân hàng TMCP L4) về việc được xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 4, tờ bản đồ số 9, diện tích 150,4m² tại khu phố Y, phường T, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất trên đã được Ủy ban nhân dân thị xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE948874 ngày 23/8/2011 mang tên ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị B.
- Tuyên hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 130.0016 ký ngà y 12/01/2015 giữa Ngân hàng TMCP B1 ( nay là Ngân hàng TMCP L4) với ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị B vô hiệu. Buộc Ngân hàng TMCP B1 (nay là Ngân hàng TMCP L4) phải trả lại cho ông L1, bà B giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 948874 do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ngày 23/8/2011 mang tên ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị B.
Buộc ông Lê Xuân L, bà Nguyễn Thị M phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP B1 ( nay là Ngân hàng TMCP L4) số tiền tính đến ngày 04/10/2024 là 4.233.061.307đ ( Trong đó nợ gốc là 1.300.098.081đ và tiền lãi trong hạn là 1.886.887.205đ và lãi quá hạn là 1.046.075.202đ).
Kể từ ngày 05/10/2024 ông L, bà M còn phải tiếp tục trả tiền nợ lãi quá hạn, lãi suất phạt quá hạn cho Ngân hàng TMCP B1 ( nay là Ngân hàng TMCP L4) theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết trên số nợ gốc thực tế kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.
Trường hợp ông L, bà M không trả được nợ thì Ngân hàng TMCP B1 ( nay là Ngân hàng TMCP L4) có quyền đề nghị xử lý toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của thửa đất số 76, tờ bản đồ số 15, diện tích 36,3m² tại khu phố
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/10/2024, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP B1 (nay là Ngân hàng TMCP L4) kháng cáo một phần bản án sơ thẩm liên quan tới yêu cầu khởi kiện không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận.
Ngày 14/10/2024, bị đơn là ông Lê Xuân L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; ngày 16/10/2024 ông Lê Xuân C là ngừoi có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Ngày 17/10/2024, Viện trưởng VKSND tỉnh Bắc Ninh kháng nghị phúc thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đề nghị xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu về lãi suất phạt quá hạn; các đương sự kháng cáo được Tòa án triệu tập hợp lệ vẫn vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày giữ nguyên kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng:
- Về kháng cáo: Đơn kháng cáo của Nguyên đơn, Bị đơn và những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thời hạn luật định và hình
thức đúng quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn và những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không phải vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan do đó đề nghị HDXX đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các đương sự này.
Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 2188/QĐ-VKS-KDTM ngày 17/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh trong thời hạn luật định và hình thức đúng quy định tại Điều 278, Điều 279, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
-Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm tuyên nếu ông Lê Xuân L, bà Nguyễn Thị M không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị xử lý toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Lê Xuân C về đề nghị tuyên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ký giữa ông Lê Xuân C, bà Trần Thị T1 với Ngân hàng vô hiệu, buộc Ngân hàng trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Xuân C. Khoản 2 Điều 325 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên vô hiệu Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 130.0016/2015/HĐ TC/BĐ, ngày 12/01/2015 là không đúng quy định pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng. Do đó có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 130.0016/2015/HĐTC/BĐ, ngày 12/01/2015 ký giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị B có hiệu lực pháp luật. Phần quyết định của Bản án sơ thẩm tuyên: Kể từ ngày 05/10/2024 (sau ngày xét xử sơ thẩm) ông L, bà M còn phải tiếp tục trả tiền nợ lãi quá hạn, lãi suất phạt quá hạn cho Ngân hàng theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết trên số nợ gốc thực tế cho đến khi thi hành án xong. Việc tuyên lãi suất phạt quá hạn là vượt quá yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và không đúng quy định của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Án phí ông L, bà M phải chịu đối với tổng số tiền phải trả nêu trên là: 112.000.000 đồng + 0,1% của 233.061.307đồng (phần giá trị tranh chấp vượt 4.000.000.000 đồng) = 112.233.000 đồng ( đã làm tròn số). Như vậy Bản án tuyên án phí sơ thẩm mà ông L, bà M phải chịu không đúng, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, không đúng với quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Do vậy, căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:
- - Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn là ông Lê Xuân L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Xuân C;
- - Chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP B1, nay là Ngân hàng TMCP L4;
- - Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 2188/QĐ-VKS-KDTM ngày 17/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh;
- - Sửa Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 04/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về tố tụng:
- Ngày 05/5/2023, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh thụ lý vụ án, trong quá trình giải quyết vụ án, do người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Tá L2 hiện đang lao động tại Nhật Bản nên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh để giải quyết là đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật. Ông L, bà M vay tiền của ngân hàng với mục đích sản xuất kinh doanh, bổ sung vốn lưu động; bổ sung vốn lưu động kinh doanh gỗ và đồ gỗ mỹ nghệ. Do vậy, hợp đồng tín dụng vay là có mục đích kinh doanh nên là vụ án kinh doanh thương mại.
- Bị đơn Lê Xuân L và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Xuân C được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không phải vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các đương sự này.
Về nội dung:
- Xét Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 2188/QĐ-VKS-KDTM ngày 17/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP B1 (nay là Ngân hàng TMCP L4), bị đơn là ông Lê Xuân L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Xuân C; Hội đồng xét xử thấy:
Ngày 25/12/2014, ngân hàng thương mại cổ phần B1 (nay là Ngân hàng TMCP L4) (sau đây gọi tắt là ngân hàng) có ký với ông Lê Xuân L, bà Nguyễn Thị Mai M1 hợp đồng tín dụng số 130.0498/2014/HĐTD- LPBNN và phụ lục hợp đồng số 130.0498/2014/HĐTD- LPBNN- 01 ngày 29/12/2014; phụ lục hợp đồng tín dụng số 130.0498/HĐTD- LPBBN/PL- 02 ngày 12/01/2015; phụ lục hợp đồng tín dụng số 130.0498/2014/HĐTD- LPBNN/PL- 03 ngày 19/3/2015. Theo nội dung của hợp đồng tín dụng này thì ngân hàng đồng ý cho ông L, bà M số tiền 3.000.000.000đ, trong đó hạn mức sử dụng ngay 2.972.900.000đ; thời hạn vay 12 tháng; mục đích sử dụng vốn vay: bổ sung vốn kinh doanh gỗ và sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ. Sau khi ký kết hợp đồng tín dụng ngân hàng đã giải ngân cho ông L, bà M số tiền 2.972.900.000đ theo khế ước nhận nợ số 02/2015/LEXUANLOI ngày 20/3/2015; khế ước nhận nợ số 03/2015/LEXUANLOI ngày 09/7/2015 và khế ước nhận nợ số 04/2015/LEXUANLOI ngày 21/7/2015. Ông L, bà M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký với ngân hàng nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông L, bà M trả cho ngân hàng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 04/10/2024 là 4.233.061.307đ. Phía bị đơn là ông L thừa nhận chữ ký trong hợp đồng tín dụng là của ông nhưng theo ông L thì ông không nhận được bất cứ số tiền nào từ Ngân hàng C1. Tuy nhiên, theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, chữ ký trong giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ là của ông L, bà M. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông L và bà M không có chứng cứ, tài liệu nào chứng minh chữ ký trong hợp đồng tín dụng cũng như trong giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ không phải là chữ ký của ông bà nên ông L, bà M phải có trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng số tiền như ngân hàng yêu cầu là đúng quy định của pháp luật.
Đối với hợp đồng thế chấp thế chấp quyền sử dụng đất số 300.0422 ký ngày 06/12/2013 giữa ngân hàng với ông Lê Xuân L, bà Nguyễn Thị M và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất quyền sử dụng đất số 130.0310 ký ngày 29/12/2014 giữa ngân hàng với ông Đỗ Văn T, bà Nguyễn Thị V. Ngày 25/7/2018, ông L, bà M đã nộp số tiền 769.950.000đ và rút tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 51, tờ bản đồ số 2P, diện tích 250m² tại thôn P, xã P, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh và ngày 02/10/2019, ông L bà M nộp tiếp số tiền 899.950.000đ và rút tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản khác
gắn liền với đất của thửa đất số 34, tờ bản đồ số 26, diện tích 85m² tại phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Do vậy, hai hợp đồng thế chấp này các bên đã giải chấp xong. Nên việc ông L, bà M nộp tiền để rút hai tài sản bảo đảm ra và việc ngân hàng giải chấp hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L, bà M và ông T, bà V đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm không quyết định đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là không chính xác, nhưng do quyền lợi của các đương sự không bị ảnh hưởng và đã đưuọc đảm bảo nên tòa án cấp phúc thẩm không hủy; cần rút kinh nghiệm.
Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 130.0079/2015/HĐTC/BĐ ký ngày 19/3/2015 giữa ngân hàng với ông Lê Xuân C, bà Trần Thị T1. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng là quyền sử dụng đất của thửa đất số 76, tờ bản đồ số 15, diện tích 36,3m² tại khu phố T, phường Đ, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân thị xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 318218 ngày 15/4/2011 mang tên ông Lê Xuân C. Việc ký hợp đồng thế chấp nêu trên giữa Ngân hàng với ông Lê Xuân C, bà Trần Thị T1 là tự nguyện. Tài sản đem thế chấp thuộc quyền sử dụng của ông Lê Xuân C. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên được lập thành văn bản, đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm, nên đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Do đó, Bản án sơ thẩm tuyên nếu ông Lê Xuân L, bà Nguyễn Thị M không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị xử lý toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Lê Xuân C về đề nghị tuyên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ký giữa ông Lê Xuân C, bà Trần Thị T1 với Ngân hàng là vô hiệu, buộc Ngân hàng trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Xuân C. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại Đơn kháng cáo, ông Vũ Văn D là người đại diện theo uỷ quyền của ông Lê Xuân C cho rằng tại thời điểm ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất với Ngân hàng thì bà Trần Thị T1 không ký vào Hợp đồng mà chữ ký của bà T1 trong Hợp đồng là do bà Nguyễn Thị T3 (em dâu ông C) ký nhưng không cung cấp được mẫu chữ ký so sánh để Tòa án trưng cầu giám định. Ngoài ra, ông D còn cho rằng tại thời điểm ký Hợp đồng thế chấp, bà T1 không có đủ năng lực hành vi dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập tài liệu tại Bệnh viện S2 thể hiện bà T1 điều trị bệnh lần đầu tại Bệnh viện S2 từ ngày 27/9/2021 đến ngày 29/10/2021. Như vậy, tại thời điểm ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 19/3/2015 với Ngân hàng thì bà T1 vẫn có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Do đó, ý kiến người đại diện theo uỷ quyền của ông Lê Xuân C là không có căn cứ chấp nhận.
Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 130.0016 ký ngà y 12/01/2015 giữa ngân hàng với ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị B. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất của
thửa đất số 4, tờ bản đồ số 9, diện tích 150,4m² tại khu phố Y, phường T, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất được Ủy ban nhân dân thị xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 948874 ngày 23/8/2011 mang tên ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị B. Việc ký hợp đồng thế chấp nêu trên giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị B là tự nguyện. Tài sản thế chấp thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị B. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên được lập thành văn bản, đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm, đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào “Đơn xác nhận v/v xây dựng công trình nhà ở ngày 03/10/2024” để cho rằng 01 ngôi nhà 03 tầng trên đất do vợ chồng anh Nguyễn Tá L2 (con ông L1, bà B) và chị Lê Thị T2 bỏ tiền ra xây dựng, anh L2 và chị T2 không biết và không ký vào hợp đồng thế chấp, nên đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của anh L2, chị T2. Để từ đó, xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 130.0016/2015/HĐTC/BĐ, ngày 12/01/2015 giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị B là vô hiệu. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 130.0016/2015/HĐTC/BĐ, ngày 12/01/2015 giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị B vô hiệu là không đúng quy định pháp luật, bởi lẽ: Đơn xác nhận v/v xây dựng công trình nhà ở ngày 03/10/2024 có nội dung ghi toàn bộ chi phí vật liệu, nhân công ... tổng trị giá 480.000.000 đồng nhưng phần xác nhận của Ủy ban nhân dân phường T chỉ có nội dung: “Xác nhận thửa đất số 4 tờ bản đồ số 9 tại khu phố Y, phường T có một căn nhà diện tích khoảng 180m² hai tầng và một mái xây dựng năm 2012”. Ý kiến của Ủy ban nhân dân phường T không xác nhận nội dung anh L2, chị T2 là chủ sở hữu ngôi nhà 03 tầng trên diện tích đất thế chấp. Do vậy, chưa có căn cứ xác định tài sản trên đất thế chấp thuộc sở hữu của anh L2 và chị T2. Mặt khác, theo quy đinh tại Khoản 2 Điều 325 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất thì “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì khi xử lý quyền sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được tiếp tục sử dụng đất trong phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình; quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp trong mối quan hệ với chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất được chuyển giao cho người nhận chuyển quyền sử dụng đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Do đó, Hợp đồng thế ch ấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 130.0016/2015/HĐTC/BĐ, ngày 12/01/2015 ký giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị B không vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên vô hiệu Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 130.0016/2015/HĐTC/BĐ, ngày 12/01/2015 là không đúng quy định pháp luật, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng. Vì vậy, có căn cứ để chấp
nhận kháng cáo của Ngân hàng và Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 130.0016/2015/HĐTC/BĐ, ngày 12/01/2015 ký giữa Ngân hàng với ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị B có hiệu lực pháp luật.
Phần quyết định của Bản án sơ thẩm tuyên: Kể từ ngày 05/10/2024 (sau ngày xét xử sơ thẩm) ông L, bà M còn phải tiếp tục trả tiền nợ lãi quá hạn, lãi suất phạt quá hạn cho Ngân hàng theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết trên số nợ gốc thực tế cho đến khi thi hành án xong. Việc tuyên lãi suất phạt quá hạn là vượt quá yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và không đúng quy định của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Án phí ông L, bà M phải chịu đối với tổng số tiền phải trả nêu trên là: 112.000.000 đồng + 0,1% của 233.061.307đồng (phần giá trị tranh chấp vượt 4.000.000.000 đồng) = 112.233.000 đồng ( đã làm tròn số). Như vậy Bản án tuyên án phí sơ thẩm mà ông L, bà M phải chịu không đúng, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, không đúng với quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn Lê xuân L; kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Xuân C; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh; chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; sửa bản án sơ thẩm là phù hợp.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 2188/QĐ-VKS-KDTM ngày 17/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh; Chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP B1, nay là Ngân hàng TMCP L4; đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn ông Lê xuân L, khnga cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Xuân C; sửa bản án sơ thẩm.
- Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn ông Lê Xuân L phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định; ông Lê Xuân C là người cao tuổi được miễn án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 2188/QĐ-VKS-KDTM ngày 17/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh; Chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP B1, nay là Ngân hàng TMCP L4; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn ông Lê xuân L, kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Xuân C; Sửa Bản án số 01/2024/KDTM-ST ngày 04/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Cụ thể:
“1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B1 ( nay là Ngân hàng TMCP L4).
Buộc ông Lê Xuân L, bà Nguyễn Thị M phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP B1 ( nay là Ngân hàng TMCP L4) số tiền tính đến ngày 04/10/2024 là 4.233.061.307đ ( Trong đó nợ gốc là 1.300.098.081đ và tiền lãi trong hạn là 1.886.887.205đ và lãi quá hạn là 1.046.075.202đ).
Trường hợp ông L, bà M không trả được nợ thì Ngân hàng TMCP B1 (nay là Ngân hàng TMCP L4) có quyền đề nghị xử lý toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của thửa đất số 76, tờ bản đồ số 15, diện tích 36,3m² tại khu phố T, phường Đ, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh, thửa đất được Ủy ban nhân dân thị xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 318218 ngày 15/4/2011 mang tên ông Lê Xuân C; và toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất của thửa đất số 4, tờ bản đồ số 9, diện tích 150,4m² tại khu phố Y, phường T, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bắc Ninh, thửa đất đã được Ủy ban nhân dân thị xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE948874 ngày 23/8/2011 mang tên ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị B.
Kể từ ngày 05/10/2024 ông L, bà M còn phải tiếp tục trả tiền nợ lãi quá hạn cho Ngân hàng TMCP B1 (nay là Ngân hàng TMCP L4) theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết trên số nợ gốc thực tế cho đến khi thi hành án xong.
- Về án phí và chi phí tố tụng:
Ngân hàng TMCP B1 (nay là Ngân hàng TMCP L4) không phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng TMCP B1 ( nay là Ngân hàng TMCP L4) số tiền tạm ứng án phí đã nộp 53.817.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000098 ngày 04/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
Ông Lê Xuân L, bà Nguyễn Thị M phải chịu 112.233.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP B1 ( nay là Ngân hàng TMCP L4) và ông L, bà M mỗi bên phải chịu 5.000. 000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Xác nhận Ngân hàng TMCP B1 ( nay là Ngân hàng TMCP L4) đã nộp số tiền 10.000.000đ. Nên buộc ông L, bà M phải trả cho Ngân hàng TMCP B1 ( nay là Ngân hàng TMCP L4) 5.000.000đ tiền xem xét thẩm định tại chỗ.”
- Về án phí: ông Lê Xuân L phải chịu 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm; được đối trừ với số tiền 2.000.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp lần lượt theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000259 ngày 22/10/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Miễn án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm cho ông Lê Xuân C.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điều Văn Hằng |
Bản án số 05/2025/KDTM-PT ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 05/2025/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/02/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
