Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KRÔNG NĂNG

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày 05-02-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Long và bà Nguyễn Thị Chinh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Tuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Ngọc T (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 23/7/1989, tại tỉnh Hải Dương.

Nơi thường trú: Buôn Wik, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn H (không xác định được năm sinh, đã bỏ đi khỏi địa phương từ lâu, hiện không rõ ở đâu) và con bà Lê Thị C, sinh năm 1955. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con út. Bị cáo có vợ Trần Thị P, sinh năm 1989, bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 29/11/2024 cho đến nay. Hiện tại ngoại; Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lê Đức Đ, sinh năm 1993; Địa chỉ: Buôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Anh Đào Trọng H1, sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn K, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  3. Anh Phan Trung T1, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Anh Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  5. Anh Nguyễn Duy K, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  6. Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  7. Anh Y Du M, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn C, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Ngọc T làm nghề kinh doanh dịch vụ dàn nhạc phục vụ đám, tiệc trên địa bàn huyện K và các vùng lân cận. Vào tháng 10/2023, T tích góp được một số tiền để tiếp tục đầu tư kinh doanh, nhưng khi thấy có nhiều người hỏi vay tiền nên T nảy sinh ý định sử dụng số tiền này cho vay lấy lãi kiếm thêm thu nhập. Những người vay tiền thường là bạn bè quen biết nên khi cho vay T không viết giấy vay mượn, không giữ giấy tờ hay tài sản gì của người vay. Việc giao nhận tiền vay, thanh toán tiền gốc và lãi giữa T với người vay được thực hiện bằng hình thức giao nhận tiền mặt hoặc chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng V của T, số tài khoản 1021154115. T sử dụng số điện thoại 0973.714.xxx, tài khoản M1 và tài khoản Zalo đều mang tên “Tỉnh Toc” được đăng ký bằng số điện thoại trên để liên lạc với người vay và nhắc đóng tiền lãi. T thường cho vay dưới hình thức vay nóng, tức người vay trả tiền lãi theo định kỳ còn tiền gốc thì giữ nguyên đến khi nào trả được tiền gốc sẽ hoàn tất khoản vay. Khi cho vay, T thỏa thuận mức lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương với mức lãi suất 109,5%/năm, cao gấp 5,47 lần mức lãi suất cao nhất của Nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Với cách thức như trên, từ tháng 10/2023 đến tháng 10/2024, Trần Ngọc T cho 04 người vay tiền, cụ thể như sau:

1. Anh Lê Đức Đ, sinh năm 1993, trú tại: buôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vay 02 lần:

  • - Lần 1: Ngày 27/10/2023, Đ vay của T 30.000.000đ, lãi suất là 3.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương 109,5%/năm), không thỏa thuận thời hạn vay. Mỗi tháng Đ phải trả cho T 2.700.000đ tiền lãi. Tính đến tháng 10/2024, Đ đã trả cho T 11 tháng tiền lãi với tổng số tiền là 29.700.000đ, tiền lãi tháng thứ 4 (từ ngày 27/01/2024 đến 27/02/2024) T không lấy. Số tiền lãi cao nhất theo quy định là 5.424.658đ. T đã thu lợi bất chính số tiền 24.275.342đ.
  • - Lần 2: Ngày 01/12/2023, Đ vay của T 30.000.000đ, lãi suất là 3.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương 109,5%/năm), không thỏa thuận thời hạn vay. Mỗi tháng Đ phải trả cho T 2.700.000đ tiền lãi. Tính đến tháng 10/2024, Đ đã trả cho T 09 tháng tiền lãi với tổng số tiền là 24.300.000đ, tiền lãi tháng thứ 3 (từ ngày 01/02/2024 đến 01/3/2024) T không lấy. Số tiền lãi cao nhất theo quy định là 4.438.356đ, T đã thu lợi bất chính số tiền 19.861.644 đ.

Như vậy, tổng số tiền T cho Đ vay là 60.000.000đ, tiền lãi thu được là 54.000.000đ, trong đó tiền lãi cao nhất theo quy định là 9.863.014đ, T đã thu lợi bất chính số tiền 44.136.986đ. Hiện Đại còn nợ T 60.000.000đ tiền gốc.

2. Anh Đào Trọng H1, sinh năm 1989, trú tại: TDP2, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vay 13 lần:

  • - Lần 1: Ngày 29/3/2024, H1 vay của T 10.000.000đ, lãi suất là 3.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương 109,5%/năm), thời hạn vay là 30 ngày. Đến ngày 30/4/2024, H1 trả cho T 900.000đ tiền lãi. Sau đó, ngày 03/5/2024 H1 đã trả cho T 10.000.000đ tiền gốc, số ngày chậm trả tiền gốc T không tính lãi. Số tiền lãi cao nhất theo quy định là 164.384đ, T đã thu lợi bất chính số tiền 735.616đ.
  • - Lần 2: Ngày 03/4/2024, H1 vay của T 20.000.000đ, lãi suất là 3.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương 109,5%/năm), thời hạn vay là 30 ngày. Đến ngày 04/5/2024, H1 đã trả cho T 20.000.000đ tiền gốc và 1.800.000đ tiền lãi, số ngày quá hạn T không tính lãi. Số tiền lãi cao nhất theo quy định là 328.767đ, T đã thu lợi bất chính số tiền 1.471.233đ.
  • - Lần 3, 4 và 5: Ngày 15/7/2024, H1 vay của T 20.000.000đ, đến ngày 17/7/2024 H1 vay thêm hai lần, một lần 15.000.000đ và một lần 5.000.000đ, tất cả đều với lãi suất là 3.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương 109,5%/năm), không thỏa thuận thời hạn vay. Đến ngày 31/7/2024, H1 đã trả cho T 40.000.00đ tiền gốc và 1.800.000đ tiền lãi của cả ba khoản vay. Trong đó, khoản vay ngày 15/7/2024 được tính là 16 ngày, khoản vay ngày 17/7/2024 được tính là 14 ngày. Số tiền lãi cao nhất theo quy định là 328.766đ, T đã thu lợi bất chính số tiền 1.471.234đ.
  • - Lần 6 và 7: Ngày 10/8/2024, H1 vay của T 20.000.000đ, đến ngày 12/8/2024 H1 vay thêm 20.000.000đ, tất cả đều với lãi suất 3.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương 109,5%/năm), không thỏa thuận thời hạn vay. Đến ngày 17/8/2024, H1 đã trả cho T 40.000.000đ tiền gốc và 900.000đ tiền lãi của cả hai khoản vay. Trong đó, khoản vay ngày 10/8/2024 được tính là 08 ngày, khoản vay ngày 12/8/2024 được tính là 07 ngày. Số tiền lãi cao nhất theo quy định là 164.383đ, T đã thu lợi bất chính số tiền 735.617đ.
  • - Lần 8 và 9: Ngày 19/8/2024, H1 vay của T 20.000.000đ, đến ngày 20/8/2024, H1 vay thêm 20.000.000đ, tất cả đều với lãi suất 3.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương 109,5%/năm), không thỏa thuận thời hạn vay. Đến ngày 25/8/2024, H1 đã trả cho T 720.000đ tiền lãi của cả hai khoản vay, trong đó cả hai khoản vay được tính chung là 06 ngày. Sau đó, ngày 27/8/2024, H1 đã trả cho T 40.000.000đ tiền gốc và trả thêm 360.000đ tiền lãi của cả hai khoản vay, trong đó cả hai khoản vay được tính chung là 03 ngày. Số tiền lãi cao nhất theo quy định là 197.260đ, T đã thu lợi bất chính số tiền 882.740đ.
  • - Lần 10, 11, 12 và 13: Ngày 29/8/2024, H1 vay của T 10.000.000đ; ngày 31/8/2024, H1 vay thêm 10.000.000đ; ngày 02/9/2024, H1 vay thêm 10.000.000đ ngày 03/9/2024, H1 vay thêm 20.000.000đ, tất cả đều với lãi suất 3.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương 109,5%/năm), không thỏa thuận thời hạn vay. Đến ngày 09/10/2024, H1 đã trả cho T 50.000.000đ tiền gốc và 6.100.000đ tiền lãi của cả bốn khoản vay, trong đó cả bốn khoản vay được tính chung là 41 ngày. Số tiền lãi cao nhất theo quy định là 1.123.289đ, T đã thu lợi bất chính số tiền 4.976.713đ.

Như vậy, tổng số tiền T cho H1 vay là 200.000.000đ, tiền lãi thu được là 12.580.000đ, trong đó tiền lãi cao nhất theo quy định là 2.306.849đ, T đã thu lợi bất chính số tiền 10.273.151đ.

3. Anh Phan Trung T1, sinh năm 1994, trú tại: thôn T, xã E, huyện K vay 01 lần: Ngày 03/10/2023, T1 vay của T 30.000.000đ, lãi suất là 3.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương 109,5%/năm), thời hạn vay là 30 ngày. Sau khi vay tháng đầu tiên, T1 chưa có tiền để trả tiền gốc nên chỉ trả cho T 2.700.000đ tiền lãi. Lúc này, T1 và T thỏa thuận lại lãi suất là 2.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương 73%/năm). Sau đó, T1 tiếp tục trả thêm hai tháng tiền lãi và đã trả tiền gốc cho T. Số tiền lãi cao nhất theo quy định là 493.151đ, T đã thu lợi bất chính số tiền 2.206.849đ.

4. Anh Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1992, trú tại: thôn H, xã E, huyện K vay 01 lần: Ngày 01/10/2023, H2 vay của T 30.000.000đ, lãi suất là 3.000đ/1.000.000đ/ngày (tương đương 109,5%/năm), không thỏa thuận thời hạn vay. Mỗi tháng H2 phải trả cho T 2.700.000đ tiền lãi. Tính đến tháng 10/2024, H2 đã trả cho T 12 tháng tiền lãi với tổng số tiền 32.400.000đ. Số tiền lãi cao nhất theo quy định là 6.000.000đ, T đã thu lợi bất chính số tiền 26.400.000đ. Hiện H2 còn nợ T 30.000.000đ tiền gốc.

Như vậy: Trần Ngọc T sử dụng số tiền gốc 320.000.000đ cho vay, với lãi suất 109,5%/năm, tổng số tiền lãi thu được là 101.680.000đ, số tiền lãi cao nhất theo quy định là 18.663.014đ, T thu lợi bất chính số tiền 83.016.986đ.

* Ngoài ra:

  • - Trần Ngọc T còn cho một số người khác (Đào Trọng H1; Phan Trung T1; Nguyễn Văn N, sinh năm 1990, trú tại thôn L, xã P, huyện K; Nguyễn Duy K, sinh năm 1988, trú tại thôn L, xã P, huyện K vay tiền với mức lãi suất 2.000đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương đương với mức lãi suất 73%/năm, cao gấp 3,65 lần mức lãi suất cao nhất của Nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Số tiền cho vay là 215.000.000đ, tiền lãi thu được là 65.280.000đ, tiền lãi theo quy định là 17.884.930đ, T đã thu lợi số tiền 47.395.070đ.
  • - Trần Ngọc T nhiều lần cho Đào Trọng H1 vay tiền thời gian ngắn, không lấy lãi, khi trả tiền H1 tự gửi thêm cho T tiền uống cà phê. Tổng số tiền cho vay là 205.000.000đ, số tiền H1 tự gửi thêm cho T là 1.400.000đ.

Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K thu giữ: 01 giấy mượn tiền đề ngày 14/4/2024, số tiền 80.000.000đ, giữa bên cho vay Trần Ngọc T và bên vay là Phan Trung T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12; số tiền 2.600.000đ.

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Trần Ngọc T về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng với lời khai của bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng truy tố đối với bị cáo về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự đúng và không oan.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự và đề nghị:

  • - Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, 3 Điều 201; điểm b, i, r, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 36 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc T 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Trần Ngọc T số tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Ngọc T.

  • + Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Lưu giữ theo hồ sơ vụ án đối với 01 giấy mượn tiền đề ngày 14/4/2024.
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 đã qua sử dụng và số tiền 2.600.000đ là số tiền thu lợi bất chính.

Về trách nhiệm dân sự:

  • - Truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền gốc 230.000.000đ và số tiền lãi theo quy định của Nhà nước (20%/năm) (18.663.014đ – 2.600.000đ) = 16.063.014đ mà bị cáo Trần Ngọc T đã thu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  • - Truy thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền gốc mà những người vay chưa trả cho bị cáo Trần Ngọc T, gồm: Lê Đức Đại số tiền 60.000.000đ; Nguyễn Ngọc H2 số tiền 30.000.000đ.
  • - Chấp nhận việc bị cáo Trần Ngọc T đã tự nguyện khắc phục hậu quả, trả lại cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với số tiền thu lợi bất chính 83.016.986đ, cụ thể: Trả lại cho anh Lê Đức Đại S tiền 44.136.986đ; anh Đào Trọng H1 số tiền 10.273.151đ; anh Phan Trung T1 số tiền 2.206.849đ; anh Nguyễn Ngọc H2 số tiền 26.400.000đ.

Về án phí: Bị cáo Trần Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quá trình điều tra, Trần Ngọc T cho một số người khác vay tiền với mức lãi suất 73%/năm, cao gấp 3,65 lần, nhưng dưới mức 05 lần mức lãi suất cao nhất của Nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, nên hành vi này không cấu thành tội phạm, nhưng vi phạm điểm đ khoản 4 Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, Chủ tịch UBND huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Ngọc T về hành vi nêu trên, hình thức phạt tiền, số tiền 15.000.000đ, T đã nộp phạt theo quy định.

Đối với chị Trần Thị P là vợ của bị cáo Trần Ngọc T, chị P không biết việc Trần Ngọc T có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên không đề cập xử lý.

Bị cáo không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng một mức hình phạt nhẹ nhất vì bị cáo đã ăn năn hối hối hận về hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật, nhằm thu lợi bất chính nên mặc dù nhận thức được việc cho vay tiền với lãi suất cao là vi phạm pháp luật nhưng Trần Ngọc T vẫn thực hiện, trong khoảng thời gian từ tháng 10/2023 đến ngày 10/10/2024 tại địa bàn huyện K, tỉnh Đắk Lắk, Trần Ngọc T đã sử dụng số tiền gốc 320.000.000đ để cho 04 người vay tiền, dưới hình thức vay nóng, với lãi suất 109,5%/năm, cao gấp 5,47 lần mức lãi suất cao nhất của Nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tổng số tiền lãi thu được là 101.680.000đ, số tiền lãi cao nhất theo quy định là 18.663.014đ, Trần Ngọc T thu lợi bất chính số tiền 83.016.986 đồng.

Vì vậy, hành vi của bị cáo Trần Ngọc T đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tại Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

...

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

[3] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng mà còn mang tính chất bóc lột, làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, điêu đứng; gây bất bình trong quần chúng nhân dân, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, xã hội nói chung. Bị cáo là người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được pháp luật; biết rõ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi, muốn có tiền một cách nhanh chóng nên vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo tự đặt ra mức lãi suất 109,5%/năm, gấp 5,47 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự mà nhà nước quy định là 20%/năm được quy định trong Bộ luật Dân sự. Đồng thời bị cáo đã thu lợi bất chính tổng số tiền 83.016.986 đồng. Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng trên địa bàn huyện K nói riêng và cả nước nói chung nên cần xử phạt nghiêm minh đối với bị cáo để bị cáo có điều kiện được giáo dục và cải tạo thành người công dân tốt cũng như răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt; bị cáo Trần Ngọc Tình tự T2 về hành vi phạm tội của mình; trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện giao nộp số tiền 2.600.000đ, tự nguyện trả lại số tiền thu lợi bất chính 83.016.986đ cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để khắc phục hậu quả, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp và có cơ sở chấp nhận nhằm tạo điều kiện để bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội và trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Xét thấy bị cáo Trần Ngọc T hiện nay đang có hoàn cảnh khó khăn, công việc không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Ngọc T cho vay lãi nặng và nhằm thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo với số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

[7] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7.1] Về vật chứng:

  • - Lưu giữ theo hồ sơ vụ án đối với 01 giấy mượn tiền đề ngày 14/4/2024.
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, số IMEI 1: 357419572558626, số IMEI 2: 357419572553213.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 xác sim số điện thoại có các ký tự đọc được là “vinaphone 89840200011656797279”.

[7.2] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền gốc 230.000.000đ là số tiền bị cáo Trần Ngọc T dùng vào việc phạm tội và số tiền lãi theo quy định của Nhà nước (20%/năm) (18.663.014đ – 2.600.000đ) = 16.063.014đ là số tiền bị cáo đã thu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  • - Truy thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền gốc mà những người vay chưa trả cho bị cáo Trần Ngọc T, gồm: Lê Đức Đại số tiền 60.000.000đ; Nguyễn Ngọc H2 số tiền 30.000.000đ.
  • - Chấp nhận việc bị cáo Trần Ngọc T đã tự nguyện khắc phục hậu quả, trả lại cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với số tiền thu lợi bất chính 83.016.986đ, cụ thể: Trả lại cho anh Lê Đức Đại S tiền 44.136.986đ; anh Đào Trọng H1 số tiền 10.273.151đ; anh Phan Trung T1 số tiền 2.206.849đ; anh Nguyễn Ngọc H2 số tiền 26.400.000đ.

[8] Quá trình điều tra, Trần Ngọc T cho một số người khác vay tiền với mức lãi suất 73%/năm, cao gấp 3,65 lần, nhưng dưới mức 05 lần mức lãi suất cao nhất của Nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, nên hành vi này không cấu thành tội phạm, nhưng vi phạm điểm đ khoản 4 Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Chủ tịch UBND huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Ngọc T về hành vi nêu trên, hình thức phạt tiền, số tiền 15.000.000đ là phù hợp và cần chấp nhận. Bị cáo T đã nộp phạt theo quy định.

Đối với chị Trần Thị P là vợ của bị cáo Trần Ngọc T, chị P không biết việc Trần Ngọc T có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không đề cập xử lý là phù hợp và cần chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo Trần Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Về điều luật và mức hình phạt:
    • - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm b, i, r, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 36 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện K nhận được quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Trần Ngọc T cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự.

    Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Trần Ngọc T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Ngọc T.

    Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo Trần Ngọc T kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  3. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    3.1. Việc xử lý vật chứng vụ án:

    • - Lưu giữ theo hồ sơ vụ án đối với 01 giấy mượn tiền đề ngày 14/4/2024.
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, số IMEI 1: 357419572558626, số IMEI 2: 357419572553213.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 xác sim số điện thoại có các ký tự đọc được là “vinaphone 89840200011656797279”.

    (Các vật chứng nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Năng).

    3.2. Về trách nhiệm dân sự:

    • - Truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền gốc 230.000.000 đồng (Hai trăm ba mươi triệu đồng) là số tiền bị cáo Trần Ngọc T dùng vào việc phạm tội và số tiền lãi theo quy định của Nhà nước (20%/năm) là 16.063.014 đồng (Mười sáu triệu không trăm sáu mươi ba nghìn không trăm mười bốn đồng) là số tiền bị cáo đã thu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
    • - Truy thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền gốc mà những người vay chưa trả cho bị cáo Trần Ngọc T, gồm: Lê Đức Đại số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng); Nguyễn Ngọc H2 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
    • - Chấp nhận việc bị cáo Trần Ngọc T đã tự nguyện khắc phục hậu quả, trả lại cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với số tiền thu lợi bất chính 83.016.986 đồng (Tám mươi ba triệu không trăm mười sáu nghìn chín trăm tám mươi sáu đồng), cụ thể: Trả lại cho anh Lê Đức Đại S tiền 44.136.986 đồng; anh Đào Trọng H1 số tiền 10.273.151 đồng; anh Phan Trung T1 số tiền 2.206.849 đồng; anh Nguyễn Ngọc H2 số tiền 26.400.000 đồng.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1431/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. buộc Bị cáo Trần Ngọc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND huyện Krông Năng;
  • - Phòng PV 27 - Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - T.H.A hình sự Công an huyện Krông Năng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Krông Năng;
  • - HSNV Công an huyện Krông Năng;
  • - Chi cục THADS huyện Krông Năng;
  • - UBND xã Ea Hồ;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(ĐÃ KÝ)

Nguyễn Thành Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 05/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (usury in civil transactions)

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Usury in civil transactions)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc T phạm tội Điều 201 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger