TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24/01/2025 V/v: “Xin ly hôn”. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thuý Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà: Nguyễn Thị Bé Em
- Ông: Trần Văn Hưng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Sơn Trường
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ấm– Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 434/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2024, về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- + Nguyên đơn: Nguyễn Thị Hương G, sinh năm 1982. Có đơn xin vắng mặt.
- Địa chỉ: Số E, ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- + Bị đơn: Trần Trung T, sinh năm 1987. Vắng mặt.
- Nơi thường trú: Số F, khu phố C, phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Chổ ở hiện nay: Số B, khu phố D, đường H, phường E, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hương G có đơn xin vắng mặt nhưng có lời trình bày tại đơn khởi kiện ngày 28/6/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Chị và anh Trần Trung T tự nguyện kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G1, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được một thời gian đầu, thời gian sau do bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Chị đã cố gắng hòa hợp để hàn gắn nhưng không được. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn nên chị và anh T đã đã ly thân và không sống chung nhà từ năm 2013 đến nay. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được nên xin ly hôn với anh T và không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng.
Chị và anh T có 01 con chung tên Trần Gia L, sinh ngày 01/01/2013 hiện tôi đang nuôi dưỡng. Sau ly thân, thời gian đầu thỉnh thoảng anh T có đến thăm con nhưng khi con chung được 05 tuổi thì anh T không có đến thăm con nữa. Sau ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Giữa chị và anh T không có tài sản chung hay nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn là anh Trần Trung T vắng mặt nên không có lời trình bày.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hương G được ly hôn với anh Trần Trung T.
- - Về con chung: Chị G được trực tiếp nuôi con chung tên Trần Gia L, sinh ngày 01/01/2013. Ghi nhận chị G không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét đến.
- - Tuyên án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe kiểm sát viên phát biểu ý kiến. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là anh Trần Trung T đã tiến hành việc cấp tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Hương G có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227; khỏan 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn cho thấy, đây là vụ kiện “Xin ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn có nơi cư trú tại xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
[3] Về nội dung vụ án: Chị Nguyễn Thị Hương G và anh Trần Trung T tự nguyện kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G1, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên đã ly thân cho đến nay. Chị G cho rằng, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống tính tình không phù hợp. Chị nhiều lần động viên khuyên giải và tạo điều kiện để xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Nay, chị khẳng định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với anh T. Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên hòa giải và thông báo việc giao nộp chứng cứ theo quy định của pháp luật nhưng anh T vẫn vắng mặt không lý do, coi như đã từ bỏ thiện chí xin đoàn tụ với chị G. Do, anh T vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải cho anh chị đoàn tụ được mà lập biên bản hòa giải đoàn tụ không được. Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị G và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị G xử cho chị G được ly hôn với anh T. Chị G không yêu cầu việc vợ chồng cấp dưỡng cho nhau nên ghi nhận.
[4] Trong quá trình chung sống, anh chị có 01 con chung tên Trần Gia L, sinh ngày 01/01/2013 hiện chị G đang nuôi dưỡng. Chị G yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn không những là quyền mà còn là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Hiện cháu L đang sống với chị G, chị G vẫn đảm bảo được việc nuôi dạy con tốt không có vi phạm gì và cháu L cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Để đảm bảo cho đời sống của con sau này và để không làm xáo trộn cuộc sống của con nên chấp nhận yêu cầu của chị G. Xử cho chị G được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp và ghi nhận chị G không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị G khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận.
[6] Về án phí: Chị G phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng.
[7] Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hương G đối với anh Trần Trung Tín H.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Hương G và anh Trần Trung T được ly hôn. Ghi nhận việc chị G không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau ly hôn.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hương G được trực tiếp trông nom chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung tên Trần Gia L, sinh ngày 01/01/2013 cho đến khi cháu L tròn 18 tuổi. Ghi nhận chị G không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị G khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hương G phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng. Do chị G đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng nên được khấu trừ theo biên lai số 0005321 ngày 04/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre. Chị G đã nộp xong án phí.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thuý Hằng |
Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE về xin ly hôn
- Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hương G xin ly hôn với Trần Trung T
