|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/HSST Ngày: 24/01/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Văn Thắng.
- Ông Thân Văn Bình.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 24/01/2025, tại trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 13/01/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn D- sinh ngày 10/5/2006;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 07/12;
Họ và tên bố: Lê Văn T, sinh năm 1974;
Họ và tên mẹ: Phạm Thị S, sinh năm 1980;
Vợ, con: chưa có;
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 25/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn T, sinh năm 1974 (có mặt).
- Bà Phạm Thị S, sinh năm 1980 (có mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Đức V, sinh năm 2002 (vắng mặt).
- Anh Lý Văn H, sinh năm 2007 (vắng mặt).
Địa chỉ: Xóm D, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Người giám hộ: Chị Nông Thị T1, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 05 phút ngày 16/12/2024, tại khu vực nhà bà Mè Thị V1- sinh năm 1957 ở thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Tổ công tác Công an huyện Y phối hợp cùng Công an xã Đ, huyện Y và Công an tỉnh B tiến hành tuần tra, kiểm soát phát hiện Lê Văn D- sinh ngày 10/5/2006 ở thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi buôn bán hàng cấm nghi là pháo nổ. Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) bao tơ dứa bên trong đựng 03 (ba) cuộn gồm các vật hình trụ tròn, mỗi cuộn đều có các vật hình trụ tròn dán giấy màu đỏ được gắn kết với nhau bằng dây ngòi, mỗi cuộn đều có kích thước là (16x10,5)cm (nghi là pháo nổ), được niêm phong trong 01 (một) thùng bìa cát tông có ký hiệu “Pháo nổ” và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98C1- 289.09. Sau đó, tổ công tác đưa D về trụ sở Công an xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để làm việc.
Quá trình làm việc, D xin đầu thú về hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng kiểu dáng Iphone, số IMEI: 356111095897620, số tiền 1.440.000 đồng và khai nhận đang vận chuyển 03 (ba) cuộn pháo nổ đựng trong bao tơ dứa mang đi bán thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, ngoài số pháo bị thu giữ D còn cất giấu pháo nổ tại nhà với mục đích mang đi bán. Đồng thời tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ, kết quả: Không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội.
Cùng ngày 16/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn D, thu giữ: 07 (bảy) cuộn hình trụ tròn kích thước (16,5x10,5)cm, mỗi cuộn gồm các vật hình trụ tròn có vỏ màu đỏ liên kết với nhau bằng dây ngòi (nghi là pháo nổ); 01 dây có chiều dài 01m, gồm các vật hình trụ tròn có vỏ màu đỏ liên kết đối xứng với nhau bằng dây ngòi (nghi là pháo nổ), tất cả được niêm phong trong 01 (một) thùng bìa cát tông có ký hiệu “Pháo khám xét”.
Tại bản Kết luận giám định số 2741/KL-KTHS ngày 23/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Trong 01 (một) thùng bìa cát tông có ký hiệu “Pháo nổ” đã được niêm phong gửi giám định: 03 (ba) cuộn hình trụ đều có kích thước (16x10,5)cm, mỗi cuộn đều có các vật hình trụ nhỏ vỏ giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn dây ngòi được liên kết đối xứng với nhau, được đựng trong 01 (một) bao tơ dứa đều là Pháo nổ, có tổng khối lượng 2,8kg (hai phẩy tám ki lô gam).
- Trong 01 (một) thùng bìa cát tông có ký hiệu “Pháo khám xét” đã được niêm phong gửi giám định: 07 (bảy) cuộn hình trụ đều có kích thước (16x10,5)cm, mỗi cuộn đều có các vật hình trụ nhỏ vỏ giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn dây ngòi được liên kết đối xứng với nhau và 01 dây có chiều dài 01 mét, gồm các vật hình trụ nhỏ vỏ giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn dây ngòi được liên kết đối xứng với nhau đều là Pháo nổ, có tổng khối lượng 7,4kg (bẩy phẩy tư ki lô gam).
Quá trình điều tra, D khai nhận: Khoảng đầu tháng 12/2024, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên D nảy sinh ý định tìm mua pháo nổ mục đích để bán thu lợi nhuận. D sử dụng điện thoại di động màn hình cảm ứng (không nhớ nhãn hiệu) truy cập vào mạng xã hội (không nhớ tên, địa chỉ) rồi dùng sim rác (không nhớ số thuê bao) liên lạc với số điện thoại được ghi trên trang mạng đặt mua 1.000.000 đồng tiền pháo nổ tự chế. Khoảng 02- 03 ngày sau, có 01 người giao hàng là nam giới giao cho D 01 thùng hàng bên trong có 10 cuộn pháo hình trụ tròn được liên kết bằng các quả pháo nhỏ hình trụ tròn có vỏ màu đỏ và 01 dây pháo được liên kết với nhau bằng các quả pháo nhỏ hình trụ tròn có vỏ màu đỏ, D thanh toán cho người giao hàng 1.000.000 đồng tiền mặt và mang số pháo nổ mua được cất giấu tại phòng ngủ của mình. Đến ngày 10/12/2024, D đi chơi tại địa phận thôn B, xã Đ thì gặp 01 nam thanh niên tự giới thiệu tên là V2. Qua trao đổi nói chuyện thì V2 biết D có pháo nổ bán nên hỏi mua, D đồng ý. Sau đó, V2 kết bạn Facebook với D đặt vấn đề muốn mua 03 cuộn pháo nổ, thỏa thuận giá 900.000 đồng/01 cuộn và hẹn đúng 20 giờ 00 phút ngày 16/12/2024 sẽ giao pháo tại đoạn đường trước cửa nhà bà Mè Thị V1- sinh năm 1957 ở thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đến khoảng 19 giờ 55 phút ngày 16/12/2024, D cho 03 cuộn pháo nổ vào bao tơ dứa, rồi điều khiển xe mô tô 98C1- 289.09 chở pháo đến khu vực sân nhà bà V1 (nhà không có ai ở) thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng có liên quan.
Cáo trạng số 06/CT-VKS-YT ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo Lê Văn D về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 190; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 50 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lê Văn D từ 01 (một) năm 02 (Hai) tháng đến 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng đến 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo D cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo D.
* Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 9,2 kg pháo hoa nổ đựng trong 02 (một) thùng bìa cát tông dán kín, niêm phong bằng hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu, ký hiệu là “Pháo nổ” và “Pháo khám xét” còn lại sau giám định.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98C1-289.09; số máy: JA39E3205802; số khung: RLHJA3927PY559726.
- - Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng kiểu dáng Iphone, số IMEI: 356111095897620; số tiền 1.440.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án.
Không ai có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng... không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, người làm chứng là Nguyễn Đức V, anh Lý Văn H (người giám hộ là chị Nông Thị T1) đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều thừa nhận: Hồi 20 giờ 05 phút ngày 16/12/2024, tại khu vực nhà bà Mè Thị V1 - sinh năm 1957 ở thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Tổ công tác Công an huyện Y phối hợp cùng Công an xã Đ, huyện Y và Công an tỉnh B tiến hành tuần tra, kiểm soát phát hiện Lê Văn D đang có hành vi buôn bán 2,8kg pháo nổ thì bị tổ công tác phát hiện, thu giữ. Ngoài ra, Lê Văn D còn tàng trữ 7,4kg pháo nổ nhằm mục đích bán kiếm lời. Tổng số pháo nổ Lê Văn D tàng trữ để bán là 10,2kg.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hành vi buôn bán 10,2 kg pháo nổ nhằm mục đích bán để kiếm lời, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 06/CT-VKS-YT ngày 10/01/2025 và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tại phiên tòa đối với bị cáo Lê Văn D là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện tại sinh sống cùng bố mẹ đẻ, không có tài sản riêng gì có giá trị, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi:
Tội phạm do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Thời gian gần đây, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang xảy ra nhiều vụ tai nạn thương tâm, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người dân xuất phát từ việc sản xuất, tàng trữ, sử dụng trái phép pháo nổ. Hành vi buôn bán hàng cấm của bị cáo không chỉ có nguy cơ gây mất an toàn cho bản thân bị cáo mà còn gây mất an toàn cho những người xung quanh. Vì vậy, cần thiết phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo D là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa có hành vi vi phạm pháp luật nào khác, chấp hành tốt chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, mặt khác, bị cáo tuổi đời còn rất trẻ (khi thực hiện hành vi phạm tội mới 18 tuổi 07 tháng 06 ngày), đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 của Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội vẫn đủ tác dụng giáo dục, răn đe riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Về vật chứng:
- Đối với 9,2 kg pháo hoa nổ đựng trong 02 (hai) thùng bìa cát tông dán kín, niêm phong bằng hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu, ký hiệu là “Pháo nổ” và “Pháo khám xét” còn lại sau giám định là vật chứng thuộc loại cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98C1-289.09, tại phiên tòa bị cáo và chị Phạm Thị S là mẹ đẻ của bị cáo đều có nguyện vọng được nhận lại xe, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo và chị S đều thừa nhận chiếc xe trên là chị S mua cho bị cáo, bị cáo đứng tên chủ sở hữu nên chiếc xe thuộc quyền sở hữu của bị cáo. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với số tiền 1.440.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng kiểu dáng Iphone, số IMEI: 356111095897620 là tài sản của D, không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho D theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nhưng tạm giữ số tiền 1.440.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
[7] Về các vấn đề khác:
- Đối với chiếc điện thoại di động và sim điện thoại D sử dụng để đặt mua số pháo nổ và liên lạc với người thanh niên tên V2 do D làm rơi, không biết rơi ở vị trí nào nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để truy tìm.
- Đối với người bán pháo cho D, D không nhớ đặt ở trang mạng nào, không nhớ số điện thoại liên lạc. Người thanh niên đặt mua pháo nổ, D chỉ biết tên là V2 và người vận chuyển pháo đến giao cho D, D đều không biết tên tuổi, địa chỉ của những người này nên không có căn cứ để xác minh, truy tìm.
- Bà Mè Thị V1 không biết Lê Văn D buôn bán pháo nổ tại khu vực nhà mình nên không xem xét xử lý.
- D khai nhận thực hiện hành vi buôn bán pháo nổ một mình, trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội, D không trao đổi, bàn bạc với ai. Trong gia đình D không ai biết việc D buôn bán pháo nổ nên không có căn cứ xem xét xử lý đối với anh Lê Văn T (bố đẻ bị cáo), chị Phạm Thị S (mẹ đẻ bị cáo), anh Lê Văn Đ (anh trai bị cáo) cùng ở thôn B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 50, các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ quy định tại Điều 292; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 293; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Xử:
1. Về tội danh và hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/01/2025.
Giao bị cáo Lê Văn D cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Lê Văn D.
2. Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 thùng bìa cát tông dán kín, niêm phong bằng hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu, ký hiệu là “Pháo nổ”, bên trong có 2,4 kg (Hai phẩy tư ki lô gram) pháo nổ còn lại sau giám định, 01 (một) bao tơ dứa .
- - Tịch thu tiêu hủy 01 thùng bìa cát tông dán kín, niêm phong bằng hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu, ký hiệu là “Pháo khám xét”, bên trong có 6,8 kg (Sáu phẩy tám ki lô gram) pháo nổ còn lại sau giám định.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98C1-289.09, số máy: JA39E3205802; số khung: RLHJA3927PY559726, trong cốp xe không có tài sản gì.
- - Trả lại Lê Văn D 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, kiểu dáng Iphone, số IMEI: 356111095897620, màn hình điện thoại bị nứt vỡ; số tiền 1.440.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ số tiền 1.440.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Bị cáo Lê Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Trang |
Bản án số 05/2025/HSST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm về tội buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 05/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: XP Lê Văn D 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Buôn bán hàng cấm.
