TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày: 23-01-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tâm;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Khắc Hiếu và ông Lương Công Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đức Vũ Tài – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Duy – Kiểm sát viên.
Vào ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm, trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 177/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T
Tên gọi khác: T1. Sinh ngày 03/6/1997, tại tỉnh Phú Yên. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: thôn L, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 8/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn C, sinh năm 1967; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1966; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 1998; Có 02 con sinh năm 2020 và 2023. Tiền án: không; tiền sự: Ngày 11/7/2024, bị Công an xã A xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nhân thân: Ngày 30/6/2020, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi chống người thi hành công vụ. Ngày 02/8/2024, bị Công an xã A xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/10/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Lê Ngọc N, sinh năm 1982; Địa chỉ: khu phố L, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Ông Trần Quốc D, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn L, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Ông Trần Huỳnh Đ, sinh năm 1997; Trú tại: 4 N, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Ông Nguyễn Kim L, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn C, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Ông Nguyễn R, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn L, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Bà Phạm Thị M1, sinh năm 1968; Địa chỉ: Thôn L, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn X, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Bà Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn L, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/7/2024, Trưởng Công an xã A ban hành Quyết định số01/QĐ-CAX phân công ông Lê Ngọc N, Phó Trưởng Công an xã A giải quyết, xử lý vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 11/7/2024, Trưởng Công an xã A ban hành Quyết định số 007983/QĐ-XPHC xử phạt hành chính đối với T số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo đúng quy định của pháp luật và đã giao quyết định cho T nhưng T không chấp hành nộp phạt.
Đến khoảng 09 giờ ngày 26/7/2024, thực hiện Kế hoạch công tác tuần từ ngày 22/7/2024 đến ngày 28/7/2024 và Kế hoạch thực hiện Quyết định xử phạt hành chính 007983/QĐ-XPHC ngày 11/7/2024 đã được Trưởng Công an xã phê duyệt, ông Lê Ngọc N (mặc trang phục Công an nhân dân theo đúng quy định của ngành) đến nhà Nguyễn Văn T ở thôn L, xã A, thành phố T mời T đến trụ sở Công an xã A để làm việc và đôn đốc T chấp hành nộp phạt. Khi đến nhà T, ông N gặp vợ của T là chị Nguyễn Thị Như Q đề nghị gặp T để giao giấy mời, chị Q gọi T ra gặp ông N. Khi gặp T, ông N giao giấy mời cho T nhưng T không nhận, ông N đã giải thích nhưng T vẫn không chấp hành mà la ó, chửi bới ông N rồi chạy xuống bếp cầm 01 con dao bầu dài 30cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại chạy lên dọa đâm ông N rồi rượt đuổi ông N chạy trên đường bê tông phía trước nhà T khoảng 10 mét. Sau đó, T quay về nhà lấy 02 con dao Thái Lan mỗi con dài 21,5cm, lưỡi dao bằng kim loại, cán dao bằng nhựa màu vàng cầm trên hai tay đứng trước cổng nhà và tiếp tục la ó, chửi ông N. Thấy vậy, ông N liền điện thoại cho Trực ban Công an xã A báo cáo sự việc. Lúc này, Trưởng Công an xã A phân công 02 cán bộ Công an xã là ông Trần Quốc D và Trần Huỳnh Đ phối hợp cùng 02 cán bộ dân quân thường trực xã là ông Nguyễn Kim L và Nguyễn R đến hỗ trợ ông N thực hiện nhiệm vụ và đảm bảo an ninh trật tự. Đến khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày, các ông D, Đ, L và R (mặc trang phục theo đúng quy định) đến, cùng với ông N giải thích, vận động, thuyết phục T bỏ hung khí, nhận giấy mời và đến Công an xã làm việc nhưng T không chấp hành mà nhặt vỏ chai nước khoáng bằng thủy tinh dọa đâm và ném vào lực lượng đang thi hành công vụ. Thấy việc thuyết phục T không có kết quả, lực lượng thi hành công vụ áp sát với mục đích khống chế, tước hung khí của T thì T bỏ trốn.
Tại Bản cáo trạng số 02/CT-VKSTH ngày 19/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo T nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, khẳng định không bị oan và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51. Phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 04/10/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 con dao bầu dài 30 cm có cán bằng gỗ dài 12cm, lưỡi bằng kim loại dài 18cm; 02 con dao Thái Lan dài 21,5cm có cán bằng nhựa màu vàng dài 10,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 11cm; 01 két nước khoáng bằng nhựa và 17 vỏ chai nước khoáng bằng thủy tinh (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T với Chi cục thi hành án dân sự thà nh phố Tuy Hò a ngà y 20/12/2024); tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD có chứa video đối tượng Nguyễn Văn T cầm do đòi đâm lực lượng làm nhiệm vụ ngày 26/7/2024.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu theo pháp luật.
- Bị cáo thống nhất với bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không tranh luận. Nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tuy nhiên đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng tại cơ quan điều tra. Xét việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án và không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, chấp nhận ý kiến của bị cáo, Kiểm sát viên, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
- Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và lời khai của họ đều phù hợp với nhau; các tài liệu này đều được Cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự, hoàn toàn khách quan, có giá trị chứng minh và đảm bảo các thuộc tính của chứng cứ. Do đó đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ, ngày 26/7/2024 tại thôn L, xã A, thành phố T, bị cáo Nguyễn Văn T không chấp hành việc nhận giấy mời làm việc để đôn đốc yêu cầu nộp phạt của Công an xã A mà có hành vi la ó, chửi và dùng dao (dao bầu và dao Tháo Lan) đe dọa, rượt đuổi ông Lê Ngọc N, Phó Trưởng Công an xã A và dùng vỏ chai nước khoáng bằng thủy tinh dọa đâm, ném vào lực lượng lực lượng Công an, dân quân xã A khi đến gần nhằm để cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ của họ. Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ”. Cáo trạng số 02/CT-VKSTH ngày 19/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa truy tố bị cáo T với tội danh “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Xét, về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo T là đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn và bị Công an xã A xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Khi giao giấy mời bị cáo T về trụ sở Công an xã A để làm việc, đôn đốc việc nộp phạt thì bị cáo hành vi chửi bới và dùng dao (dao bầu và dao Tháo Lan) đe dọa, rượt đuổi ông Lê Ngọc N, Phó Trưởng Công an xã A và dùng vỏ chai nước khoáng bằng thủy tinh dọa đâm, ném vào lực lượng lực lượng Công an, dân quân xã A khi đến gần nhằm để cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ của họ. Hành vi của bị cáo rất manh động, nguy hiểm, đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của lực lượng Công an, xã đội đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ trật tự, an ninh khu dân cư, thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an- an toàn xã hội ở địa phương, gây mất uy tín thực thi công vụ của chính quyền địa phương nên cần xử lý nghiêm. Đặc biệt bị cáo T có nhân thân xấu, đã bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chống người thi hành công vụ vào ngày 30/6/2020 nhưng vẫn tu dưỡng.
- Xét, về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Tuy bị cáo T có hành vi chống người thi hành công vụ thể hiện tính nguy hiểm ở mức độ cao nhưng theo điểm 4 mục I Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 thì trường hợp này được xem là tình tiết “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải. Do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo T. Ngoài ra bị cáo T có thời gian đi nghĩa vụ quân sự tại Hải đội 2 Bộ đội biên phòng năm 2015, xuất ngũ năm 2017. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị cáo hiện đang có 02 con còn nhỏ, vợ không có việc làm nên khi áp dụng hình phạt cần giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo. Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 con dao bầu dài 30 cm có cán bằng gỗ dài 12cm, lưỡi bằng kim loại dài 18cm; 02 con dao Thái Lan dài 21,5cm có cán bằng nhựa màu vàng dài 10,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 11cm; 01 két nước khoáng bằng nhựa và 17 vỏ chai nước khoáng bằng thủy tinh (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T với Chi cục thi hành án dân sự thà nh phố Tuy Hòa ngà y 20/12/2024); tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD có chứa video đối tượng Nguyễn Văn T cầm do đòi đâm lực lượng làm nhiệm vụ ngày 26/7/2024.
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Chống người thi hành công vụ”
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự: không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/10/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tâm |
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về hình sự (chống người thi hành công vụ)
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chống người thi hành công vụ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Trí "Chống người thi hành công vụ"
