|
TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23-01-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Thuỷ và ông Nguyễn Mạnh Hùng. - Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thuỳ - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2024/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXX-ST ngày 30 tháng 12 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đào Thị L, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Thôn G, xã A, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Mai Xuân V, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Số E, ngõ H, phố L, khu phố D, thị trấn N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa, chị L và anh V đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo Đơn khởi kiện ngày 31 tháng 10 năm 2024 các văn bản tố tụng nguyên đơn là chị Đào Thị L trình bày và đề nghị: Chị và anh Mai Xuân V đăng ký kết hôn vào ngày 29 tháng 01 năm 2016 trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình, mâu thuẫn về kinh tế, anh V thường xuyên chơi bời, không quan tâm đến gia đình, không đưa tiền cho vợ nuôi con. Anh V vay nợ để chơi bời dẫn đến những người cho vay thường xuyên gọi điện cho chị đòi nợ, họ còn bôi nhọ danh dự và gia đình chị trên các trang mạng xã hội, làm ảnh hưởng đến công việc, sức khoẻ và tinh thần của chị, khiến cho chị không thể chịu đựng nổi. Anh V còn nhiều lần đánh chị để ép chị đưa tiền, cầm cố tài sản trong gia đình để anh vững lấy tiền chơi bời. Hai bên gia đình đã khuyên bảo và hòa giải nhưng anh V vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể sống được với nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 09/2021 cho đến nay. Chị và cháu Mai Diệp A về nhà bố mẹ đẻ tại thôn G, xã A, huyện T, tỉnh Thanh Hóa để sinh sống. Anh V hứa thay đổi nhiều lần nhưng đến nay vẫn không thay đổi được cách sống. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng chị không còn quan tâm đến nhau, cuộc sống của ai người đó tự lo. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mai Xuân V.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Mai Đào Quỳnh C, sinh ngày 26/9/2016 và cháu Mai Diệp A, sinh ngày 02/8/2020. Hiện tại cháu Mai Đào Quỳnh C sống cùng anh V và ông bà nội tại số E, ngõ H, phố L, khu phố D, thị trấn N, huyện T. Cháu Mai Diệp A đang sống cùng chị tại nhà ông bà ngoại thôn G, xã A, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Các cháu ngoan, khỏe mạnh, phát triển bình thường, không bị đánh đập bạo hành và được đi học đầy đủ. Trong đơn khởi kiện chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung nhưng cháu Quỳnh C đang ở với anh V và ông bà nội, cháu Quỳnh C cũng có nguyện vọng ở với bố nên chị đồng ý giao cháu Quỳnh C cho anh V nuôi dưỡng. Chị nuôi cháu Diệp A; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Hiện tại chị đang làm nhân viên bán hàng tại công ty N, mức thu nhập bình quân 10.000.000đ/ tháng. Chị hoàn toàn có đủ điều kiện về sức khỏe, kinh tế để nuôi con. Bố mẹ chị còn khỏe, luôn giúp đỡ chị chăm sóc cháu trong thời gian chị đi làm.
- Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại Bản tự khai ngày 18/11/2024, các văn bản tố tụng bị đơn là anh Mai Xuân V trình bày và đề nghị: Anh và chị Đào Thị L đăng ký kết hôn vào ngày 29 tháng 01 năm 2016 trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng hơn 5 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Do mâu thuẫn về kinh tế, anh làm ăn không được nên dẫn đến thất thoát tiền bạc, tình cảm vợ chồng rạn nứt. Hai bên gia đình có hòa giải khuyên bảo nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, chị L về ở với bố mẹ đẻ tại thôn G, xã A, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Anh không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị L. Anh mong muốn vợ chồng quay về đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy các con.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Mai Đào Quỳnh C, sinh ngày 26/9/2016 và cháu Mai Diệp A, sinh ngày 02/8/2020. Hiện tại cháu Mai Đào Quỳnh C ở cùng với anh và ông bà nội là ông Mai Xuân M và bà Phạm Thị M1 tại số nhà E, ngõ H, phố L, khu phố D, thị trấn N, huyện T. Cháu Mai Diệp A đang sống cùng chị L và ông bà ngoại tại tại thôn G, xã A, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Các cháu ngoan, khỏe mạnh, phát triển bình thường, không bị đánh đập bạo hành và được đi học đầy đủ.
Nếu trong trường hợp phải ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi cháu Quỳnh C. Giao cháu Diệp A cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại anh đang làm nghề cơ khí, mức thu nhập bình quân là 10.000.000đ/ tháng. Anh hoàn toàn có đủ khả năng để nuôi con và có ông bà nội giúp anh chăm sóc cháu.
Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng anh không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Biên bản xác minh ngày 30/12/2024, đại diện chính quyền UBND thị trấn N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cung cấp: Chị Đào Thị L và anh Mai Xuân V kết hôn năm 2016 tại UBND xã A, huyện T. Quá trình vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng hay xảy ra va chạm. Anh V và chị L có 2 con chung là cháu Mai Đào Quỳnh C, sinh ngày 26/9/2016 và cháu Mai Diệp A, sinh ngày 02/8/2020. Cháu Quỳnh C cháu đang ở với anh V và ông bà nội. Cháu Diệp A cháu đang ở với chị L và ông bà ngoại. Các cháu ngoan ngoãn, khỏe mạnh, không bị đánh đập bạo hành. Anh V làm nghề tự do, thu nhập bao nhiêu địa phương không nắm được, có sức khỏe nên có khả năng tạo ra thu nhập, có điều kiện nuôi con.
- Biên bản xác minh ngày 30/12/2024, đại diện chính quyền UBND xã A, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cung cấp: Chị Đào Thị L và anh Mai Xuân V kết hôn năm 2016 tại UBND xã A, huyện T. Vợ chồng chị L anh V sống ở Thị trấn N, huyện T nên địa phương không nắm bắt được mâu thuẫn của anh chị. Anh V và chị L có 2 con chung là cháu Mai Đào Quỳnh C, sinh ngày 26/9/2016 và cháu Mai Diệp A, sinh ngày 02/8/2020. Cháu Quỳnh C đang ở với anh V và ông bà nội. Cháu Diệp A cháu đang ở với chị L và ông bà ngoại. Các cháu ngoan ngoãn, khỏe mạnh, không bị đánh đập bạo hành. Chị L làm nghề tự do, thu nhập bao nhiêu địa phương không nắm được, có sức khỏe, có khả năng tạo ra thu nhập và có điều kiện nuôi con.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, HĐXX và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 LHNGĐ: Xử cho chị Đào Thị L được ly hôn anh Mai Xuân V; Về con chung: Giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Mai Diệp A, sinh ngày 02/8/2020. Anh V trực tiếp nuôi dưỡng cháu Mai Đào Quỳnh C, sinh ngày 26/9/2016, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung; Phần tài sản và công nợ các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xét; Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về tố tụng: Chị L khởi kiện xin ly hôn anh V cư trú tại thị trấn N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị L, anh V. Tại phiên tòa lần thứ nhất, chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh V vắng mặt không có ly do, HĐXX phải ra quyết định hoãn phiên toà. Phiên toà mở lại lần thứ hai, chị L vắng mặt có lý do, anh V vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị L, anh V.
- [2] Về hôn nhân: Chị Đào Thị L và anh Mai Xuân V kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn số quyển số 05/2016 ngày 29 tháng 01 năm 2016 nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống trong cuộc sống dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn yêu thương, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong công việc và cuộc sống mà đã sống ly thân một thời gian dài, cuộc sống của ai người đó tự lo. Anh V mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng không có biện pháp gì để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chị L không đồng ý đoàn tụ với anh V và vẫn tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng vợ chồng không đoàn tụ được. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX xử cho chị Đào Thị L được ly hôn anh Mai Xuân V.
- [3] Về con chung: Vợ chồng có 2 con chung là cháu Mai Đào Quỳnh C, sinh ngày 26/9/2016 và cháu Mai Diệp A, sinh ngày 02/8/2020. Cháu Quỳnh C có nguyện vọng ở với bố.
Xét nguyện vọng và điều kiện nuôi con của các đương sự: Chi Loan và anh V đều có nguyện vọng nuôi con, đây là nguyện vọng chính đáng của các đương sự. Các đương sự đều có sức khoẻ, có thu nhập và điều kiện nuôi con. Vì vậy, giao cho mỗi người nuôi một cháu theo sự nguyện vọng của các đương sự và nguyện vọng của cháu Quỳnh C là phù hợp. Vì vậy, HĐXX công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về con chung: Giáo cháu Diệp A cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng, giao cháu Quỳnh C cho anh V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ thăm con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- [4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.
- [5] Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Đào Thị L được ly hôn anh Mai Xuân V.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung: Cháu Mai Đào Quỳnh C, sinh ngày 26/9/2016 và cháu Mai Diệp A, sinh ngày 02/8/2020. Giao cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Diệp A; giao cho anh V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Quỳnh C, cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị L và anh V có quyền, nghĩa vụ thăm con chung, không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị L phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại biên lai số: 0006932 ngày 11/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn. Chị L đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |
Bản án số 05/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 05/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án ly hôn giữa chị Đào Thị Loan và anh Mai Xuân Vững