trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẬU LỘC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày: 23 - 01 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Cường

Ông Vũ Đức Lâm

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Khánh Trâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Dũng và bà Hà Thi Q - Kiểm sát viên.

Ngày 23/01/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2024/HSST ngày 26 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1972 tại xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Số CCCD: [...]. Nơi ĐKNKTT: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn T1 (đã chết); con bà: Phạm Thị D (đã chết); có vợ và có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền sự: Không; tiền án: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 08/10/2024 đến nay, bị cáo tại ngoại (Có mặt).

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm: 1977.

Trú tại: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người đại diện hợp pháp: Bà Mai Thị N, sinh năm 1952 (Có đơn xin vắng mặt).

Trú tại: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Lương Thanh V – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.

- Người làm chứng:

  1. Anh Đinh Văn T2, sinh năm 1981. (Vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1956. (Vắng mặt)
  3. Ông Trương Công D1, sinh năm 1954. (Vắng mặt)
  4. Bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1971. (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn M, xã M, huyện H, Thanh Hóa.

Trú tại: Thôn M, xã M, huyện H, Thanh Hóa.

Trú tại: Thôn M, xã M, huyện H, Thanh Hóa.

Trú tại: Thôn P, xã M, huyện H, Thanh Hóa.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1960. (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn M, xã M, huyện H, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 14/8/2024, Nguyễn Văn T đang ở nhà một mình tại thôn M, xã M, huyện H, thì anh Nguyễn Văn B (sinh năm: 1977, trú tại thôn T, xã H, huyện H, là bạn của T) đến đi vào phòng khách nhà T ngồi uống nước. Tại đây, anh B hỏi số tiền 50.000 đồng mà T đang nợ trước đó thì T trả 50.000 đồng cho anh B và anh B bỏ đi uống rượu. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm xong, T đang nằm võng xem tivi ở phòng khách thì anh B đi bộ vào nhà T. Lúc này, anh B đi vào phòng khách ngồi xuống ghế và nói với T “Rót cho tôi chén rượu”, T thấy anh B đã say nên trả lời “Hết rượu rồi em ạ”. Nghe xong, anh B nói lại “Cái loại chó, ông tiếc tôi chén rượu à”, T nói tiếp “Cái bình đựng rượu hết rồi ông ạ”, anh B vẫn tiếp tục đòi T rót rượu nhưng bị từ chối, anh B tức giận và chửi bới T. Sau đó, giữa T và anh B to tiếng, chửi bới nhau. T yêu cầu anh B đi ra khỏi nhà, ra đến sân anh B quay lại phòng khách tiếp tục chửi T. Lúc này, T dùng tay trái cầm một chiếc kéo bằng kim loại dài 21 cm ở phản gỗ nơi T ngồi, dùng 02 ngón tay để xỏ vào 02 vòng tròn của 02 cán chiếc kéo, mũi kéo hướng về phía trước, T dùng chiếc kéo đâm thẳng theo chiều hướng từ trước về sau trúng vào tai phải của anh B, vừa đâm T vừa làm động tác cắt kéo làm tai phải của anh B bị rách da kích thước 11 x 0,1 cm chảy máu, vết rách làm tai phải anh B bị cắt đứt. Tiếp đó, T dùng tay phải đấm thẳng vào sống mũi anh B làm anh B bị vỡ xương tháp mũi. Bị đánh, anh B và anh T giằng co nhau cây kéo nên bị mũi kéo va vào vùng đỉnh chẩm trái anh B gây vết thương rách da kích thước 02 x 01 cm, chảy máu. Lúc này, nhìn thấy vùng tai anh B bị chảy nhiều máu, T lấy thuốc lào ở bàn uống nước ép vào tai của anh B để cầm máu và đạp xe đạp đến nhà ông Nguyễn Văn H (sinh năm 1960, trú tại thôn M, xã M, huyện H, là y tá của thôn) để nhờ ông H đến sơ cứu cho anh B. Khi T và ông H quay lại thì anh B đã đi bộ xuống nhà ông Trương Công D1 (sinh năm 1954, trú tại thôn M, xã M, huyện H, là hàng xóm với T) và nằm tại khu vực nhà ông D1. Sau đó, mọi người đưa anh B về sân nhà T để ông H sơ cứu và đưa anh B đến cấp cứu, điều trị tại tại Bệnh viện Đa khoa huyện H.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 697/KLTTCT-PYTH ngày 19/9/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận:

2.1. Mức độ tổn hại phần trăm sức khỏe do thương tích gây nên đối với ông Nguyễn Văn B: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn B do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 11% (Mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

2.2. Mức độ tổn hại phần trăm sức khỏe của từng vết thương do thương tích gây nên đối với ông Nguyễn Văn B: Chấn thương vùng mũi gây vỡ xương tháp mũi phải, chức năng thở bình thường: 07%; Chấn thương vùng tai phải đã được điều trị; hiện tại còn sẹo vết thương phần mềm vùng tai phải, kéo dài từ thái dương phải sát chân tóc đi qua vành tai phía trên bình nhĩ tai phải ra phía sau vành tai: 03%; Vết thương đỉnh chẩm trái đã được điều trị; hiện tại còn sẹo vết thương phần mềm cùng thái dương đỉnh trái, kích thước sẹo nhỏ: 01%.

2.3. Cơ chế hình thành dấu vết tạo nên từng vết thương của ông Nguyễn Văn B: Chấn thương vùng mũi gây lệch vẹo sống mũi về bên trái: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật tày. Đã được điều trị, hiện tại còn hình ảnh tổn thương vỡ xương tháp mũi bên phải; Vết thương vùng mang tai phải; Do tác động của ngoại lực tạo nên bởi vật tày có cạnh, vật có cạnh sắc hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Đã được điều trị, hiện tại còn sẹo vết thương phần mềm vùng tai phải; Vùng đỉnh chẩm trái có vết rách da bờ mép sắc gọn dài 02 cm, đang rỉ máu: Do tác động của ngoại lực, được tạo nên bởi vật có cạnh sắc hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Đã được điều trị, hiện tại còn sẹo vết thương phần mềm vùng thái dương đỉnh trái; Tại thời điểm giám định pháp y về thương tích: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế,

Tại bản Cáo trạng số: 04/CT – VKSHL ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm k khoản 1 Điều 52 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T, mức án từ 24 tháng đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng đến 54 tháng, Giao bị cáo cho UBND xã M, huyện H giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện người bị hại và bị cáo đã tự thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái chiếc kéo bằng kim loại (cán bọc nhựa màu đen, lưỡi màu trắng sáng bị hoen rỉ, đầu nhọn, tay cầm bên trái bị gãy khoảng 03cm, chiều dài 21cm) là vật chứng của vụ án. Hiện vật chứng vụ án đã chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để bảo quản, xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bảo vệ quyền lợi, ích hợp pháp cho bị hại, bà Lương Thanh V không có ý kiến bổ sung về mức bồi thường mà các bên đã thống nhất thỏa thuận và mức hình phạt đối với bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, đối đáp về tội danh và hình phạt như Viện kiểm sát buộc tội. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để được cải tạo địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Cơ quan Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật, các quyết định, hành vi tố tụng được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự tố tụng. Quá trình điều tra không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đảm bảo tính khách quan trong hoạt động điều tra, truy tố, bảo đảm quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng khi khai báo. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội: Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận, khoảng 13 giờ 00 phút ngày 14/8/2024, người bị hại Nguyễn Văn B đến nhà bị cáo đòi uống rượu, biết trước đó bị hại đã uống rượu có biểu hiện say nên bị cáo từ chối lấy rượu. Do bị hại buông lời chửi bới, nên giữa bị cáo và người bị hại đã xảy ra mâu thuẫn và dẫn đến bị cáo cầm chiếc kéo bằng kim loại dài 21cm, đâm 01 nhát theo hướng từ trước về sau vừa đâm vừa cắt vào tai bên phải và dùng tay phải đấm 01 phát vào mũi của bị hại, sau đó hai bên tiếp tục giằng co làm chiếc kéo va chạm vào vùng đỉnh đầu gây nên viết rách da chảy máu. Kết quả giám định Pháp y về thương tích của Phòng K công an tỉnh T kết luận, người bị hại Nguyễn Văn B bị tổn hại 11%. sức khỏe.

[2.1]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng được thu giữ, kết quả giám định Pháp y về thương tích, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thu thập theo trình tự luật định. Do đó, đủ căn cứ để khẳng định, người bị hại bị tổn thương cơ thể 11% là do bị cáo trực tiếp tác động tấn công gây nên. Hành vi của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3]. Xét tính chất vụ án thấy: Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhưng do bị cáo không kiềm chế được nên dẫn đến hành vi phạm tội. Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, gây tổn hại về vật chất, tinh thần cho bị hại, nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng TNHS: Quá trình điều tra chứng minh, người bị hại thuộc người khuyết tật đặc biệt nặng đang hưởng chế độ theo Quyết định số 4435/QĐ – UBND ngày 24/11/2023 của Ủy ban nhân dân huyện H, nên hành vi phạm tội của bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm k khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4.1]. Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội. Sau khi gây thương tích cho bị hại đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả. Gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, bên cạnh đó thì người bị hại cũng có lỗi. Do đó, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trên thì không còn căn cứ xem xét tình tiết giảm nhẹ nào khác.

[5]. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS. Sau khi phạm tội thể hiện thái độ cầu thị, ăn năn hối cải, hiện tại bị cáo mắc bệnh suy tim độ 3 và nhiều bệnh lý khác. Thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo tại địa phương và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo theo khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của BLHS cũng đảm bảo trong công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.

[6]. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bên đã thống nhất tự nguyện thỏa thuận bồi thường số tiền 18.000.000 đồng và không có yêu cầu khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 cái kéo bằng kim loại (cán bọc nhựa màu đen, lưỡi màu trắng sáng bị hoen rỉ, đầu nhọn, tay cầm bên trái bị gãy khoảng 03 cm, chiều dài 21 cm) là vật chứng của vụ án. Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để bảo quản, xử lý theo quy định của pháp luật.

[8]. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm k khoản 1 Điều 52, Điều 50 và khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 cái kéo bằng kim loại có đặc điểm được mô tả trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 23 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 61, 62 và điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ mà mình bảo vệ, người đại diện hợp pháp cho người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hậu Lộc;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp;
  • - Người bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp;
  • - Công an huyện Hậu Lộc;
  • - Chi cục THADS huyện Hậu Lộc;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Nghi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger