|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày 23/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Giang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Thấu và bà Nguyễn Thị Phương Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Đình Nghị - Kiểm sát viên.
Ngày 23/01/2025, tại phòng xét xử của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS ngày 05/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19b/2024/HSST-QĐ ngày 19/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2025/HSST-QĐ ngày 17/01/2025, đối với bị cáo:
Cao Thị Thanh H, sinh năm 2002, tại thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Khu dân cư T, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Cao Xuân M, sinh năm 1965; Họ và tên mẹ: Đồng Thị H1, sinh năm 1971; Chồng: Phạm Ngọc T, sinh năm 2000 (đã ly hôn tháng 11/2024), có 01 con sinh năm 2022; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 2001, địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt (có đơn đề nghị vắng mặt).
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Đình B, sinh năm 1994.
- Ông Nguyễn Đình D, sinh năm 1999.
- Bà Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 2005.
- Bà Phạm Thị Hồng N1, sinh năm 1994.
Những người làm chứng đều vắng mặt (không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Thị Thanh H và chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 2001, trú tại thôn T, xã N, huyện T cùng là nhân viên bán hàng tại siêu thị S Trạm dừng nghỉ V52 đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, thuộc thôn L, xã H, huyện G. Khoảng 13 giờ ngày 14/8/2024, chị L có để trong ngăn bàn thu ngân của siêu thị chiếc điện thoại iPhone 11 Promax màu xám, lắp sim số 0362.712.603 mạng Viettel, bên ngoài là ốp điện thoại cao su màu nâu, mặt ngoài in hình gấu màu vàng, bên trong ốp có 01 que chọc sim màu trắng. Khi chị L và H đang làm việc thì tại Trạm V52 bị mất điện, H có để chiếc điện thoại iPhone XS Max màu vàng của mình vào trong ngăn bàn thu ngân siêu thị chỗ đã có sẵn chiếc điện thoại của chị L để trước đó, rồi H tiếp tục làm việc tư vấn bán hàng cho khách hàng. Khoảng 14 giờ cùng ngày, H vào bàn để đồ cạnh bàn thu ngân để lấy túi nilon gói hàng cho khách thì nhìn thấy chị L đi ra chỗ chấm công bằng vân tay cách bàn thu ngân khoảng 2-3 mét, chuẩn bị đi về và để quên điện thoại trong ngăn bàn thu ngân, nên H nảy sinh ý định sẽ trộm cắp chiếc điện thoại của chị L để đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi chị L đi ra ngoài để lấy xe đi về, H lấy chiếc điện thoại của chị L rồi đút vào túi quần bên phải đang mặc. Vài phút sau, H đi về phía gian chứa hàng bên phải siêu thị giáp tường phía trong cùng rồi cất giấu điện thoại của L vào kệ để đồ dưới cùng của giá để hàng rồi tiếp tục ra ngoài làm việc bình thường. Khoảng 10 phút sau, H quay lại kệ để đồ lấy điện thoại của L đút vào túi quần bên phải và vào nhà vệ sinh nữ, vào buồng vệ sinh thứ 3. Do trước đó, chị L nói chuyện với H để mật khẩu điện thoại là “8888” nên H đăng nhập mật khẩu “8888” và mở được điện thoại thì H nảy sinh ý định sẽ trộm cắp tiền trong tài khoản ngân hàng của chị L, vì H biết chị L hay dùng tài khoản ngân hàng liên kết ứng dụng Zalopay để mua sắm trên mạng. H vào ứng dụng Zalo hiển thị tài khoản “Nguyễn thị thuỳ linh”, sau đó vào Zalopay truy cập mục chuyển tiền thấy có liên kết với ngân hàng V nên H truy cập vào ví Zalopay của chị L chuyển tiền rồi thao tác chuyển tiền sang ví Z đăng ký tài khoản “Xinh” của H. H ấn thử số tiền 3.000.000 đồng nhưng giao dịch không thành công, thì H ấn tiếp chuyển số tiền 2.000.000 đồng, màn hình điện thoại hiện mã OTP, H ấn xác nhận mã và giao dịch thành công, tài khoản ví Zalopay của H báo tăng 2.000.000 đồng. Sau đó, H tháo ốp điện thoại của chị L, thấy bên trong ốp có 01 que chọc sim màu trắng nên đã dùng que chọc tháo sim điện thoại của chị L rồi vất sim, que chọc sim, ốp điện thoại vào trong thùng rác trong buồng vệ sinh và cất chiếc điện thoại của chị L vào trong túi quần bên phải của H, mục đích đợi hết ca làm sẽ đem chiếc điện thoại đi bán lấy tiền. Sau đó, H đi vào siêu thị tiếp tục làm việc, lúc này siêu thị đã có điện, H thấy chị L đến ngồi ở bàn thu ngân tìm điện thoại nhưng không thấy thì chị L đi về. Khoảng 16 giờ cùng ngày, H cất điện thoại trộm được của L vào túi xách của H đi về nhà chồng ở thôn L, xã G, huyện G. Khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, H đi đến cửa hàng bỉm sữa trẻ em của chị Phạm Thị Hồng N1, sinh năm 1994 trú tại khu B, phường T, thành phố H, gặp và hỏi chị N1 còn tiền mặt không đổi cho H, chị N1 đồng ý. H dùng điện thoại iPhone XS Max chuyển tiền từ ví Zalopay của H đến tài khoản số 19035006802019 ngân hàng T1 của chị N1 số tiền 1.000.000 đồng, chị N1 đưa cho H 1.000.000 đồng tiền mặt (gồm 2 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng). Tại cửa hàng của chị N1, H tiếp tục chuyển 1.000.000 đồng còn lại từ ví Zalopay của H sang tài khoản ngân hàng T1 số 19036899563013 của H rồi khóa tài khoản Z “Xinh” để tránh bị người khác phát hiện, sau đó H đi về nhà chồng. Ngày 15/8/2024, H đăng nhập vào tài khoản Icloud trên điện thoại của chị L và ấn quên mật khẩu, sau đó đăng nhập tài khoản Icluod tên “Hồng” của H vào điện thoại chị Linh mục Đ để đem chiếc điện thoại của L đi bán sẽ không bị người mua nghi ngờ, phát hiện. Khoảng 11 giờ cùng ngày, H đem điện thoại đã trộm cắp của chị L đến quán điện thoại “Bảo mobie” ở Số G, đường L, thị trấn G, gặp chủ quán là anh Nguyễn Đình B, sinh năm 1994, trú tại khu G, thị trấn G để bán chiếc điện thoại. Sau khi anh B kiểm tra điện thoại iCloud thấy tên “Hồng” nên đồng ý mua chiếc điện thoại iPhone 11 Promax màu xám với giá 5.200.000 đồng. Anh B trả tiền cho H bằng hình thức chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng V1 số 0341.0069.8179 mang tên anh B đến tài khoản ngân hàng T1 của H. Cùng ngày, anh B đã bán chiếc điện thoại mua của H cho một người thanh niên không quen biết với giá 6.500.000 đồng và thanh toán bằng tiền mặt. Hồi 15 giờ 26 phút ngày 16/8/2024, H đi đến ngân hàng T1 ở khu vực Cầu C, đường L, thành phố H rút số tiền 6.700.000 đồng còn trong tài khoản số 19036899563013 của H. Ngày 16/8/2024, chị L làm đơn trình báo với Công an huyện; cùng ngày, sau khi làm việc với Cơ quan điều tra H đã khai nhận về hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp số tiền 7.200.000 đồng, gồm 2.000.000 đồng là tiền trộm cắp trong tài khoản ngân hàng của L và 5.200.000 đồng là tiền bán chiếc điện thoại trộm cắp của chị L. Cơ quan điều tra quản lý được chiếc ốp điện thoại của chị L, do nhân viên dọn vệ sinh của siêu thị nhặt được trong thùng rác ở buồng vệ sinh giao nộp.
Kết luận định giá tài sản số 21 ngày 10/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện G, kết luận:
- 01 ốp điện thoại cao su màu nâu, mặt ngoài có in hình gấu màu vàng, kích thước 17x8,5cm; được mua tại thời điểm tháng 3/2024 giá trị là 15.000 đồng có giá trị tại thời điểm tháng 8/2024 là 8.000 đồng.
- 01 Điện thoại Iphone 11 ProMax màu xám, dung lượng 64GB; được mua tại thời điểm tháng 02/2024 giá trị là 8.500.000 đồng, có giá trị tại thời điểm tháng 8/2024 là 7.500.000 đồng.
- 01 sim điện thoại Viettel số 0362.712.xxx đã qua sử dụng được mua tại thời điểm năm 2021 có giá trị tại thời điểm tháng 8/2024 là 50.000 đồng
- 01 que chọc sim điện thoại bằng kim loại màu trắng, có giá trị tại thời điểm tháng 8/2024 là 6.000 đồng.
Cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 29/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện G, tỉnh Hải Dương truy tố Cao Thị Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại đơn xin xét xử vắng mặt của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa:
Đại diện VKSND huyện Gia Lộc giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS; Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX tuyên bố: Bị cáo Cao Thị Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Cao Thị Thanh H từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 18 tháng, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.
Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại iPhone Xs Max màu vàng, số máy MT6W2J/A, số sê-ri F2LXRC8NKPHV, số IMEI: 35 730909 460236 8, số IMEI 2: 35 730909 460236, bên ngoài bọc ốp nhựa trong suốt; Tịch thu tiêu hủy sim số 0369220958. Đề nghị V2 thu hồi số thuê bao 0369220958. Trả cho bị cáo số tiền 7.200.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định nội dung bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện G và quyết định truy tố, luận tội của VKSND huyện Gia Lộc đối với bị cáo là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, VKSND huyện Gia Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 14/8/2024, tại Siêu thị SA202 Trạm dừng nghỉ V52 đường C - Hải Phòng, thuộc địa phận thôn L, xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương, Cao Thị Thanh H đã có hành vi lợi dụng lúc không có ai, hệ thống camera giám sát bị mất điện, lén lút trộm cắp 01 điện thoại iPhone 11 Pro Max, lắp sim số 0362.712.603, có ốp điện thoại cao su màu nâu, bên trong ốp điện thoại có 01 que chọc sim điện thoại bằng kim loại của chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 2001, trú tại: thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương để tại quầy thu ngân của Siêu thị. Tổng trị giá tài sản là 7.564.000 đồng. Sau khi trộm cắp được điện thoại, Cao Thị Thanh H còn lén lút chiếm đoạt số tiền 2.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng của chị L thông qua việc chuyển số tiền này vào tài khoản của mình. Tổng trị giá tài sản và số tiền Cao Thị Thanh H đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thùy L là 9.564.000 đồng.
[3] Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự nhưng do cần tiền để tiêu xài, lại lười lao động nên bị cáo vẫn cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác nhằm tư lợi cá nhân, giá trị tài sản chiếm đoạt là 9.564.000 đồng, nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang cho người dân trong việc quản lý tài sản. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, góp phần phòng ngừa tội phạm nói chung.
[5] Về nhân thân, tiền án, tiền sự, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, nhận thấy: Bị cáo có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại là 11.000.000 đồng; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
[6] Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, tiền án, tiền sự của bị cáo, HĐXX thấy, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại, đến nay bị hại không có yêu cầu gì khác, trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, hơn nữa bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ở khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có đủ điều kiện được áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS, nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội mà chỉ cần áp hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt và phòng ngừa chung có hiệu quả.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H đã tự nguyện bồi thường cho chị L số tiền 11.000.000 đồng, chị L đã nhận đủ, mặc dù số tiền này cao hơn giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại nhưng đây là sự tự nguyện của bị cáo, đến nay bị cáo và bị hại không có ý kiến gì khác nên HĐXX không xem xét.
[9] Về vật chứng:
Cơ quan điều tra đã trả lại chị L 01 ốp điện thoại cao su màu nâu, mặt ngoài có in hình gấu màu vàng, kích thước 17x8,5cm, là phù hợp nên HĐXX không xem xét.
Đối với 01 (một) điện thoại iPhone Xs Max màu vàng, số máy MT6W2J/A, số sê-ri F2LXRC8NKPHV, số IMEI: 35 730909 460236 8, số IMEI 2: 35 730909 460236, lắp sim số 0369220958 mạng Viettel, bên ngoài bọc ốp nhựa trong suốt, đã qua sử dụng, là điện thoại của Cao Thị Thanh H; đây là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng để chiếm đoạt tài sản của bị hại, do chiếc điện thoại còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước, còn chiếc sim không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đề nghị V2 thu hồi số thuê bao 0369220958.
Đối với số tiền 7.200.000 đồng bị cáo tự nguyện giao nộp sau khi bị phát hiện hành vi phạm tội, xét thấy bị cáo đã bồi thường cho bị hại đủ giá trị tài sản bị chiếm đoạt, đến nay bị hại không có yêu cầu gì khác, do vậy cần trả lại cho bị cáo số tiền này theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
[10] Anh Nguyễn Đình B không biết chiếc điện thoại bị cáo bán cho là tài sản do phạm tội mà có nên không đặt ra xử lý.
Chị Phạm Thị Hồng N1 không biết số tiền 1.000.000 đồng mà bị cáo chuyển khoản để nhờ đổi sang tiền mặt là tiền do phạm tội mà có nên không đặt ra xử lý.
[11] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS; Điều 135, Điều 136, Điều 328, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Tuyên bố bị cáo Cao Thị Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Cao Thị Thanh H 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Cao Thị Thanh H cho UBND phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 BLTTHS: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Cao Thị Thanh H.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
-
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại iPhone Xs Max màu vàng, số máy MT6W2J/A, số sê-ri F2LXRC8NKPHV, số IMEI: 35 730909 460236 8, số IMEI 2: 35 730909 460379 6, bên ngoài bọc ốp nhựa trong suốt; Tịch thu tiêu hủy sim số 0369220958 (được lắp trong chiếc điện thoại iPhone Xs Max màu vàng này). Yêu cầu nhà mạng Viettel thu hồi số thuê bao di động 0369220958.
- - Trả cho bị cáo Cao Thị Thanh H số tiền 7.200.000 đồng (bảy triệu hai trăm nghìn đồng) được đựng trong phong bì số 11/CAGL.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện G và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc ngày 31/10/2024).
- Về án phí: Bị cáo Cao Thị Thanh H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Giang |
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 14 giờ ngày 14/8/2024, tại Siêu thị SA202 Trạm dừng nghỉ V52 đường Cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, thuộc địa phận thôn LT, xã HD, huyện GL, tỉnh Hải Dương, Cao Thị Thanh H đã có hành vi lợi dụng lúc không có ai, hệ thống camera giám sát bị mất điện, lén lút trộm cắp 01 điện thoại iPhone 11 Pro Max, lắp sim số 0362.712.603, có ốp điện thoại cao su màu nâu, bên trong ốp điện thoại có 01 que chọc sim điện thoại bằng kim loại của chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 2001, trú tại: thôn TKT, xã NK, huyện TK, tỉnh Hải Dương để tại quầy thu ngân của Siêu thị. Tổng trị giá tài sản là 7.564.000 đồng. Sau khi trộm cắp được điện thoại, Cao Thị Thanh H còn lén lút chiếm đoạt số tiền 2.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng của chị L thông qua việc chuyển số tiền này vào tài khoản của mình. Tổng trị giá tài sản và số tiền Cao Thị Thanh H đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thùy L là 9.564.000 đồng
