|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày: 23/01/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bạch Hưng Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Oanh và ông Nguyễn Văn Dũng.
- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lê Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại phòng xử án Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 178/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thanh T, (tên gọi khác: Không); sinh năm 1988 tại huyện D, tỉnh Nghệ An nơi cư trú: Xóm L, xã D (nay là xã X), huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Cần V bà Nguyễn Thị C (đều đã chết); có vợ là Lê Thị Bích N (đã ly hôn, chưa có con); tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 27/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 05/2022/QĐ-TA thời hạn 15 tháng. Chấp hành xong ngày 02/3/2023.
Nhân thân: Ngày 24/6/2011, bị Tòa án án nhân dân huyện Diễn Châu xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt ngày 29/5/2012, chấp hành xong các quyết định khác của bản án ngày 04/8/2011.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2024 đến nay (có mặt).
Người làm chứng: Anh Cao Thanh T1 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 15/8/2024, Nguyễn Thanh T2 ở nhà thì nhận được điện thoại của một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ nói: “Anh lấy được mô không lấy một triệu hồng về ta chơi”. Thiểu ý người đàn ông đó hỏi T10 mua được ma túy hồng phiến ở đâu không mua 1.000.000 đồng để về cùng nhau sử dụng. T nói: “Được, đến chở anh rồi ta đi”. Sau đó, T3 điện thoại cho một người nam thanh niên ở nhà nghỉ N1 xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An nói: “Cho anh mượn đó một triệu đỏ nhá”, nghĩa là T nói với người nam thanh niên bán cho T số tiền 1.000.000 đồng ma túy hồng phiến thì người đó đồng ý. Một lúc sau, người đàn ông điều khiển xe máy đến trước cổng nhà T gọi T ra rồi chở T4 mua ma túy. Khi đi đến cổng chào xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì T bảo người đàn ông dừng xe máy lại đứng chờ để T mua ma túy. Người đàn ông đồng ý rồi đưa cho T5 tiền 1.000.000 đồng. T cầm tiền rồi một mình điều khiển xe máy của người đàn ông đi đến nhà nghỉ N1 xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An để mua ma túy. Khi đến nơi T6 một người nam thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ. T đưa cho người nam thanh niên đó số tiền 1.000.000 đồng. Người này cầm tiền rồi chỉ cho T hiện gói ma túy ở góc bờ tường nhà nghỉ N2 trí gần chỗ người này đứng. T đến vị trí người nam thanh niên chỉ thì thấy có 01 gói nilon màu xanh bên ngoài được quấn băng keo màu đen, bên trong có chứa 12 viên ma túy hồng phiến. T cầm lấy gói ma túy đó ở lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về cổng chào xã D đi về đến cổng chào xã D T đưa xe máy cho người đàn ông nhờ T4 mua ma túy điều khiển xe máy, còn T7 phía sau và vẫn cầm gói ma túy đó ở lòng bàn tay trái. Đến 17 giờ 00 phút cùng ngày, khi Nguyễn Thanh T8 người đàn ông đang đi trên đường liên xã thuộc xóm P, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị Tổ công tác Công an huyện D phối hợp với Đoàn Đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 2 – Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Lúc này T thả gói ma túy ở lòng bàn tay trái xuống mặt đường liên xã cạnh vị trí T đang đứng, còn người đàn ông điều khiển xe máy chạy thoát. Tổ công tác thu giữ tại vị trí trên mặt đường liên xã thuộc xóm P, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An 01 gói nilon màu xanh, bên ngoài được quấn băng keo màu đen, bên trong có chứa 12 viên ma tuý hồng phiến.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 15/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An và Kết luận giám định số 827/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 21/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh N xác định: Mẫu vên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Thanh T9 tới giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng (12 viên) thu giữ của Nguyễn Thanh T10 tổng khối lượng là 1,1 gam.
Tại bản cáo trạng số 198/CT-VKS-DC ngày 06/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Thanh T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thanh T11 18 tháng đến 21 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong, bên trong có chứa 09 viên ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 0,8 gam cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong ban đầu; sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, nội dung cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cũng như các chứng cứ, tài liệu điều tra khác đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 15/8/2024, tại khu vực xóm P, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, bị cáo Nguyễn Thanh T thực hiện hành vi cất giữ trái phép 12 viên ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 1,1 gam nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an huyện D, tỉnh Nghệ An phối hợp với Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 2 - Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3] Đánh giá nhân thân, tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và suy yếu nòi giống của dân tộc. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được tác hại to lớn của ma túy, nó thực sự là một hiểm họa lớn đối với con người và xã hội, làm xói mòn đạo đức lối sống, đồng thời là căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Nhưng do không làm chủ được bản thân trước sự cám dỗ của ma túy nên đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Trong tình hình hiện nay, mặc dù các cơ quan chức năng đã áp dụng nhiều biện pháp đấu tranh phòng chống, Tòa án các cấp áp dụng nhiều hình phạt nghiêm khắc nhưng tội phạm về ma tuý trên địa bàn huyện nhà vẫn chưa có chiều hướng thuyên giảm mà còn xảy ra nhiều với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, phức tạp hơn. Bị cáo có nhân thân xấu, đã một lần bị kết án về tội "Trộm cắp tài sản", đã được đương nhiên xóa án tích và một lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chưa đủ thời hạn để được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục thực hiện tội phạm nghiêm trọng. Vì thế, không thể thỏa mãn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo mà cần phải xử phạt nghiêm và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian với mức hình phạt cao hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự được áp dụng cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh của cơ quan điều tra thì bị cáo là lao động tự do, thu nhập thấp và không ổn định. Bởi vậy cần xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là thỏa đáng.
[6] Về xử lý vật chứng:
1,1 gam ma túy Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Thanh T, đã sử dụng hết 0,3 gam để giám định, còn lại 0,8 gam cùng các vật dụng đóng gói đã được niêm phong là vật chứng cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
01 chiệc điện thoại di động nhãn hiệu Itel được bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy, là vật liên quan đến tội phạm, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Đối với người đàn ông rủ Nguyễn Thanh T12 đi mua ma túy về sử dụng và người thanh niên bán ma túy cho Nguyễn Thanh T (theo lời khai của T13 không xác định được họ tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xác minh, xử lý.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thanh T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 15/8/2024).
- Việc xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu 01 phong bì thư niêm phong, bên trong có chứa 09 viên ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 0,8 gam, 01 mảnh nilon màu xanh và 01 phong bì thư niêm phong ban đầu để tiêu hủy.
Sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen, đã qua sử dụng, số Imei1: 356846099149045, số 1356846099149052.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo Phiếu nhập kho 25NK015 ngày 08/11/2024.
- Án phí: Nguyễn Thanh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bạch Hưng Thành |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Thiên