Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05 /2025/HSST

Ngày: 22/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Bích Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hợi

Ông Dương Viết Vĩnh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Anh Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 101/2024/TLST-HS ngày 27/12/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXX ngày 07/01/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Văn T; Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1993;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm T, xã T, thanfh phố P, tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở hiện nay : TDP D, phường B, TP S, tỉnh Thái Nguyên ; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hoá: 5/12. Con ông: Dương Văn H, sinh năm 1967; con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1974; Gia đình bị cáo có 02 anh em, Bị cáo là con thứ nhất; chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: năm 2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “cướp giật tài sản” tại bản án số 60/2020/HS –ST ngày 12/5/2020. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/9/2021; chấp hành xong án phí ngày 28/7/2020, đã được xóa án tích.

Năm 2022, bị Công an huyện S, TP Hà Nội quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt 3.500.000đ về hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu hình sự tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 259/QĐ – XPHC ngày 14/6/2022. Đã chấp hành xong quyết định ngày 02/12/2022. Đã được xóa vi phạm.

Biện pháp ngăn chặn: Dương Văn T bị bắt tạm giữ từ ngày 16/10/2024, đến ngày 25/10/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.– Có mặt tại phiên toà.

* Người chứng kiến:

  1. Anh Đặng Văn T1, sinh năm 1973
  2. Địa chỉ: TDP Đông Sinh, phường Hồng Tiến, TP Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

  3. Anh Đỗ Trọng H2, sinh năm 1980
  4. Địa chỉ: TDP B, phường P, TP S, tỉnh Thái Nguyên

(đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 20 phút ngày 16/10/2024, tổ công tác của Công an huyện P tiến hành triệu tập đối với Dương Văn T, sinh năm: 1993; trú tại: xóm T, xã T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để làm việc liên quan đến vụ việc có dấu hiệu Trộm cắp tài sản do Cơ quan CSĐT Công an huyện P đang xác minh. Khi tổ công tác đưa Dương Văn T về đến Nhà điều hành Khu Công nghiệp Đ thuộc xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để làm việc có hỏi T có gì vi phạm pháp luật không, T đã khai nhận có ma túy cất giấu trong người để sử dụng cho bản thân do T mắc nghiện ma túy. Qua kiểm tra phát hiện, thu giữ tại túi quần phía sau, bên phải đang mặc của Dương Văn T 03 (ba) túi nilon màu trắng nắp miệng có viền xanh trong đó: 02 (hai) túi nilon bên trong đều có chứa chất bột màu trắng theo T khai nhận đó là ma túy Heroine của T và 01 (một) túi nilon chứa chất bột màu đỏ hồng theo T khai nhận đó là ma túy hồng phiến của T, T mua để cất giấu, sử dụng cho bản thân. Công an huyên P đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong số vật chứng là ma túy do T giao nộp. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu xám đen, cũ đã qua sử dụng và số tiền 120.000₫ (một trăm hai mươi nghìn đồng).

Cùng ngày, Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Phòng K tiến hành cân khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Dương Văn T được niêm phong trong phong bì ký hiệu A, cân khối lượng không bì được 0,180gam; cân toàn bộ chất bột màu đỏ hồng trong phong bì niêm phong ký hiệu A, xác định có khối lượng không bì được 0,071gam. Lấy toàn bộ chất bột màu trắng và màu đỏ hồng làm mẫu giám định.

Tại bản kết luận giám định số 1115/KL-KTHS ngày 24/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận “Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu Al gửi giám định là chất ma túy; Loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng là: 0,180 gam.

Mẫu chất bột màu đỏ hồng trong phong bì niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng là: 0,071 gam”.

Quá trình khám xét khẩn cấp nơi đăng ký thường trú của T tại xóm T, xã T, TP P và chỗ ở hiện tại của T tại TDP D, phường B, TP S, cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì. Tiến hành kiểm tra điện thoại Iphone 6 màu xám đen, cũ đã qua sử dụng của T không phát hiện nội dung gì liên quan đến vụ án.

Vật chứng vụ án gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài có chữ: “Hoàn trả 0,160 gam mẫu A và vỏ bao gói còn lại sau giám định vụ Dương Văn T, SN 1993. Phạm tội về ma túy ký hiệu A1"; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài có chữ: “Hoàn trả vỏ bao gói còn lại sau giám định vụ Dương Văn T, SN 1993. Phạm tội về ma túy ký hiệu A2", 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B1, bên ngoài có chữ: "Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu xám đen của Dương Văn T" và số tiền 120.000₫ (một trăm hai mươi nghìn đồng). Hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Dương Văn T khai nhận: bản thân là người nghiện ma túy nên thường xuyên mua ma túy về sử dụng. Khoảng 09 giờ ngày 16/10/2024, T đi bộ một mình đến khu vực ngã tư Sông C thuộc thành phố S, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, T gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua ma tuý. T đưa cho người đàn ông này số tiền 280.000 đồng (hai trăm tám mươi nghìn đồng) và nhận lại 03 (ba) túi nilon màu trắng, trong đó hai túi chứa ma tuý Heroine và một túi chứa ma tuý hồng phiến. Sau khi mua được ma túy, T cất ở túi quần phía sau, bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà trọ thuộc TDP D, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Khi T đi bộ đến khu vực cầu vượt Đ thì gặp tổ công tác của Công an huyện P triệu tập đến trụ sở để làm việc do T có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản. Khi đưa T đến nhà điều hành Khu công nghiệp Đ, huyện P, tổ công tác hỏi T “có gì vi phạm pháp luật không" thì T khai nhận có cất giấu ma túy trên người. Cơ quan công an đã tiến hành kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng như trên. T xác định nếu không có cán bộ công an hỏi thì T cũng không khai T có cất giấu ma túy trong người và cũng không có ý định sẽ mang ma túy đến cơ quan công an để giao nộp. T khai mục đích mua ma túy là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích gì khác. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng VKS ND huyện P truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội.

Tại bản Cáo trạng số: 04/CT - VKS PB ngày 27/12/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã truy tố Dương Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Dương Văn T từ 18 đến 24 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài có chữ: “Hoàn trả 0,160 gam mẫu A và vỏ bao gói còn lại sau giám định vụ Dương Văn T, SN 1993. Phạm tội về ma túy ký hiệu A1"; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài có chữ: “Hoàn trả vỏ bao gói còn lại sau giám định vụ Dương Văn T, SN 1993. Phạm tội về ma túy ký hiệu A2"
  • + Tạm giữ của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu xám đen, được niêm phong vào bì thư ký hiệu B1; số tiền 120.000 đồng tiền ngân hàng N để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14, bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm đoàn tụ với gia đình, với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2]. Người chứng kiến vắng mặt mặt tại phiên toà không có lý do. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ; Kiểm sát viên, bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt. Xét việc người chứng kiến vắng mặt không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định của pháp luật.

[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay là khách quan, thống nhất với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu được và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản cân trọng lượng chất ma tuý, bản kết luận giám định chất ma tuý..., Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 10 giờ 20 phút ngày 16/10/2024, tại khu vực xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Dương Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép trong người 0,180 gam Heroine và 0,071 gam Methamphetamine, tổng khối lượng hai loại ma túy là 0,251 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện nên hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Viện kiểm sát nhân huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Cụ thể nội dung Điều 249 BLHS có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...

c) Heroin, .... Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam”

i) có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng .... tương đương với khối lượng .... chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.”

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội: :

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo biết rõ H3 và M là mặt hàng cấm do nhà nước độc quyền quản lý, song do để thỏa mãn nhu cầu của bản thân đã dẫn bị cáo vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, là nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ các con nghiện trên địa bàn, tiếp tay cho những đối tượng mua bán ma túy. Do đó việc đưa ra xét xử bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo là cần thiết, để răn đe và phòng ngừa chung.

[5]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân xấu, cụ thể : năm 2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên xử phạt 24 tháng tù về tội “cướp giật tài sản” tại bản án số 60/2020/HS –ST ngày 12/5/2020. Năm 2022, bị Công an huyện S, TP Hà Nội quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt 3.500.000đ về hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu hình sự tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 259/QĐ – XPHC ngày 14/6/2022. Bị cáo đã được xóa án tích, xóa vi phạm nhưng là tình tiết về nhân thân cần xem xét khi Hội đồng xét xử lượng hình đối với bị cáo.

[5] Hội đồng xét xử nhận định về hình phạt cần áp dụng: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo xuất thân từ thành phần lao động, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 5/12; có trình độ hiểu biết nhất định nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện, mắc nghiện ma túy. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xét xử, bị xử phạt vi phạm vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học để hoàn lương, tránh xa ma túy. Chỉ vì để thỏa mãn nhu cầu bản thân nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Vì vậy HĐXX thấy rằng cần phải áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, ngăn ngừa tội phạm nói chung và các tội phạm về ma túy nói riêng. Xét thấy mức án đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị khi luận tội là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6].Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế khó khăn, phạm tội không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Về vật chứng của vụ án gồm:

  • + 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A1, bên ngoài có chữ: “Hoàn trả 0,160 gam mẫu A và vỏ bao gói còn lại sau giám định vụ Dương Văn T, SN 1993. Phạm tội về ma túy ký hiệu A1"; 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu A2, bên ngoài có chữ: “Hoàn trả vỏ bao gói còn lại sau giám định vụ Dương Văn T, SN 1993. Phạm tội về ma túy ký hiệu A2" là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu hiệu Iphone 6 màu xám đen, được niêm phong vào bì thư ký hiệu B1; số tiền 120.000 đồng tiền ngân hàng N thu giữ của T, quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8]Án phí và quyền kháng cáo: bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

[9]. Các hành vi khác: Về nguồn gốc số Heroine, theo T khai mua của một người đàn ông ở khu vực ngã tư Sông C, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được người này là ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Dương Văn T, ngày 23/10/2024, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện P đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự số 90/QĐ –ĐCSHS-KT-MT, quyết định khởi tố bị can số 149/QĐ – ĐCSHS-KT-MT để điều tra trong một vụ án khác.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 của BLTTHS tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Dương Văn T 24 ( hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 16/10/2024.

Áp dụng Điều 329 BLTTHS ra Quyết định tạm giam bị cáo Dương Văn T 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A1, bên ngoài bì thư có ghi “Hoàn lại 0,160 gam mẫu Al và vỏ bao gói mẫu A1 vụ Dương Văn T”; 01 (Một) Bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A2, bên ngoài bì thư có ghi “Mẫu A2 đã sử dụng hết, hoàn lại vỏ bao gói mẫu vụ Dương Văn T2".
  • - Tạm giữ của bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu xám đen được đựng trong 01 (Một)bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu B1, bên ngoài bì thư có ghi “ Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu xám đen của Dương Văn T" và số tiền 120.000đ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/01/2025 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình; số tiền theo ủy nhiệm chi chuyển khoản ngày 31/12/2024 giữa đơn vị trả tiền: Công an huyện P và đơn vị nhận tiền:Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình)

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/QH ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Dương Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh TN;
  • - VKS nhân dân huyện Phú Bình;
  • - Tòa án tỉnh TN;
  • - Nhà giữ Công an huyện Phú Bình;
  • - Công an huyện Phú Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TN;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Phú Bình;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Bích Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HSST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 05/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger