Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST

Ngày: 22-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bắc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mai Đức Danh

2. Ông Nguyễn Văn Tòng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Duyến - Kiểm sát viên

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Duy T - Sinh ngày 13/01/1994, tại xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số căn cước công dân: [...]; con ông: Nguyễn Duy H - Sinh năm 1963; con bà: Lường Thị T1 - Sinh năm 1968; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 18/4/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia (Nay là Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn), tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/9/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa

2. Trần Văn Q - Sinh ngày 19/8/2000, tại xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; số căn cước công dân: [...]; con ông: Trần Văn L -

Sinh năm 1975; con bà: Lường Thị H1 - Sinh năm 1975; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/9/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 30 tháng 8 năm 2024, thực hiện kế hoạch cảm hóa, giáo dục, quản lý, phòng ngừa thanh thiếu niên vi phạm pháp luật trên địa bàn xã T, thị xã N, Công an xã T đã tiến hành làm việc và xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Duy T và Trần Văn Q, kết quả T và Q đều dương tính với ma túy, loại Methamphetamine. Quá trình làm việc, T và Q khai nhận trước đó vừa cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của T ở thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã T đã chuyển hồ sơ vụ việc đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N để giải quyết theo thẩm quyền.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Duy T, Cơ quan điều tra phát hiện và thu giữ 01 chiếc cóng thủy tinh, một đầu được tạo thành dạng hình cầu, một đầu dạng hình trụ; 01 ống hút nhựa màu đen có chiều dài khoảng 23cm; 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 bật lửa gas, 02 túi nilon màu trắng, viền màu đỏ bên trong đều bám dính các hạt tinh thể màu trắng, 01 nắp chai nhựa màu trắng được đục hai lỗ tròn và 02 ống hút nhựa màu đen có chiều dài khoảng 20cm.

Tại kết luận giám định số 3275/KL-KTHS, ngày 09 tháng 9 năm 2024, Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

“- Tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine bám dính bên trong 01 (một) chiếc cóng thủy tinh của phòng bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định. Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.

- Tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine bám dính bên trong ống hút nhựa màu đen của phong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định. Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.

- Các hạt tinh thể màu trắng bám dính bên trong 02 (hai) túi nilon màu trắng viền màu đỏ của phong bì niêm phong ký hiệu T2 gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine. Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.

- Tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine bám dính trên nắp chai nhựa màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu T2 gừi giám định. Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.

- Tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine bám dính bên trong 02 (hai) ống hút nhựa màu đen của phong bì niêm phong ký hiệu T2 gửi giám định.

Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.”

Tại kết luận giám định số 3276/KL-KTHS ngày 09 tháng 9 năm 2024, Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Duy T và Trần Văn Q gửi đến giám định.

Tại kết luận giám định số 4196/KL-KTHS ngày 04 tháng 11 năm 2024, Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Phát hiện các dấu vết đường vân không đủ yếu tố giám định trên vỏ nilon bọc ngoài bao thuốc lá.

Tại kết luận giám định số 4306/KL-KTHS ngày 12 tháng 11 năm 2024, Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Các mẫu vật gửi giám định đều có tế bào người. Do lượng tế bào ít nên không xác định được kiểu gen.

Quá trình điều tra đã chứng minh, làm rõ diễn biến hành vi phạm tội của các bị can như sau:

Vào khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 29/8/2024, Trần Văn Q, sinh năm 2000, trú tại thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa nhắn tin Meseenger cho Nguyễn Duy T, sinh năm 1994, người cùng thôn rủ T sử dụng trái phép chất ma túy. T đồng ý và gửi số tài khoản Ngân hàng cho Q để Q gửi tiền mua ma túy. Sau khi nhận được số tiền 500.000 đồng từ Q, T gọi Zalo cho đối tượng tên M1, người ở xã T, huyện N, Thanh Hóa hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy đá và xin thêm 01 cái cóng và ống hút làm công cụ sử dụng ma túy. Sau khi mua được ma túy và có các vật dụng trên, T lấy thêm một chai nhựa màu trắng đục hai lỗ trên nắp chai, đổ nước vào chai và chuẩn bị thêm 01 bật lửa gas rồi bỏ tất cả vào hộp đựng điện thoại để trên giường ngủ. Đến 23 giờ 00 phút cùng ngày, T gọi M cho Q, bảo qua nhà T sử dụng ma túy. Khi Q đến, T bảo cho Q trèo tường vào nhà, rồi dẫn Q vào phòng ngủ của T. Tại đây, T đưa cho Q một túi nilon chứa ma túy đá và bảo Q đổ vào tay cho T, T cho ma túy vào cóng rồi cắm cóng vào một lỗ trên nắp chai, cắm ống hút màu đen vào lỗ còn lại và lắp vào chai nhựa. Tiếp đó, T dùng bật lửa gas đốt ma túy trong cóng thủy tinh cho Q sử dụng trước, sau đó T tự đốt và sử dụng phần ma túy còn lại. Sau khi sử dụng xong ma túy, thì Q ra về, còn T mang bộ dụng cụ sử dụng ma túy cất giấu trên nóc tủ tầng hai của nhà T, còn chai nhựa thì T vứt ra bãi rác trước cửa nhà rồi vào phòng đi ngủ.

Tại Bản cáo trạng số 13/CT-VKSNS ngày 06/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Duy T và Trần Văn Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều điểm a khoản 1 Điều 47 và Điều 38 BLHS; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị xử phạt: Nguyễn Duy T từ 27 tháng đến 30 tháng tù và Trần Văn Q từ 24 tháng đến 27 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 chiếc cóng thủy tinh, một đầu được tạo thành dạng hình cầu, một đầu dạng hình trụ; 01 ống hút nhựa màu đen có chiều dài khoảng 23cm; 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có chứa, 02 túi nilon màu trắng viền màu đỏ bên trong đều bám dính các hạt tinh thể màu trắng, 01 nắp chai nhựa màu trắng được đục hai lỗ tròn, 02 ống hút nhựa màu đen có chiều dài khoảng 20cm và 01 bật lửa gas màu đỏ. Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme UI, màu xanh, kiểu máy RMX3834, bên trong có lắp sim in dãy số 8984048000904405869 tương ứng với số điện thoại 0981.334.xxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu xám, số IMEI 1: 357377090524571, số IMEI 2: 357377090633851, bên trong lắp sim in dãy số 8984048000927631712 tương đương với số điện thoại 0586.567.xxx. Buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí HSST.

Hai bị cáo nhận tội, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Tại phiên tòa hai bị cáo thừa nhận: Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 29 tháng 8 năm 2024, Nguyễn Duy T và Trần Văn Q đã có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine tại trong phòng ngủ của nhà T ở thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Nguyễn Duy T và Trần Văn Q đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này hai bị cáo đã tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy nên khi lượng hình cần phải phân tích đánh giá vai trò của từng bị cáo. Bị cáo Q là người rủ bị cáo T sử dụng ma túy và là người đưa tiền cho bị cáo T đi mua ma túy, bị cáo T là người đi mua ma túy, chuẩn bị công cụ, địa điểm để sử dụng ma túy và là người đốt ma túy cho Q sử dụng. Do đó hai bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án.

Đối với người bán ma túy, quá trình điều tra Nguyễn Duy T khai mua của đối tượng tên Minh trú tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa với giá 500.000 đồng vào tối ngày 29/8/2024 bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản Ngân hàng. Tiến hành xác minh tài khoản ngân hàng T chuyển tiền, xác định tài khoản này là của Nguyễn Đức M1, sinh năm 2001, trú tại thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Làm việc với Cơ quan điều tra, M1 không thừa nhận đã bán ma túy cho T, mà khai vào tối ngày 29/8/2024, T có liên lạc với M1 hỏi mua 01 con chim chào mào với giá 500.000 đồng. Sau đó M1 gửi tin nhắn Z số tài khoản ngân hàng để T chuyển tiền và hẹn T đến gần nhà M1 để nhận chim. Sau khi nhận được tiền, M1 giao chim cho T tại khu vực gần nhà thờ giáo họ Ngọc L1 ở xã T, huyện N, Thanh Hóa.

Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp xác minh, đối chất giữa Nguyễn Đức M1 và Nguyễn Duy T nhưng không có kết quả. Ngoài lời khai của T, thì không còn có tài liệu, chứng cứ nào khác xác định M1 đã bán trái phép chất ma túy cho T nên không có căn cứ xử lý.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng: Hiện nay trên địa bàn thị xã N cũng như trên toàn quốc nói chung, tình trạng mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi của hai bị cáo phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là rất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, vi phạm chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước, làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy và cũng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác, làm cho nhân dân hoang mang, lo sợ. Vì vậy, cần phải tuyên cho mỗi bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần thiết phải cách ly cả hai bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo hai bị cảo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Đối với Nguyễn Duy T, ngày 18/4/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia (Nay là Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn), tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản.

- Về tình tiết tăng nặng: Cả hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, cả 02 bị cáo đều thành khẩn khai báo. Do đó cả 02 bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5] Xét về phần hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả 02 bị cáo.

[6] Xét về vật chứng:

- Đối với 01 chiếc cóng thủy tinh, một đầu được tạo thành dạng hình cầu, một đầu dạng hình trụ; 01 ống hút nhựa màu đen có chiều dài khoảng 23cm; 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có chứa, 02 túi nilon màu trắng viền màu đỏ bên trong đều bám dính các hạt tinh thể màu trắng, 01 nắp chai nhựa màu trắng được đục hai lỗ tròn, 02 ống hút nhựa màu đen có chiều dài khoảng 20cm và 01 bật lửa gas màu đỏ, hiện tại đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK2025/25 ngày 13/01/2025; đây là công cụ để hai bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy và không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme UI, màu xanh, kiểu máy RMX3834, bên trong có lắp sim in dãy số 8984048000904405869 tương ứng với số điện thoại 0981.334.xxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu xám, số IMEI 1: 357377090524571, số IMEI 2: 357377090633851, bên trong lắp sim in dãy số 8984048000927631712 tương đương với số điện thoại 0586.567.xxx, hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK2025/25 ngày 13/01/2025; 02 chiếc điện thoại này được hai bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Xét về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47 và Điều 38 BLHS; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Tuyên bố: Nguyễn Duy T và Trần Văn Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  3. Về hình phạt:
    • - Xử phạt: Nguyễn Duy T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/9/2024.
    • - Xử phạt: Trần Văn Q 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/9/2024.
  4. Về vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc cóng thủy tinh, một đầu được tạo thành dạng hình cầu, một đầu dạng hình trụ; 01 ống hút nhựa màu đen có chiều dài khoảng 23cm; 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có chứa, 02 túi nilon màu trắng viền màu đỏ bên trong đều bám dính các hạt tinh thể màu trắng, 01 nắp chai nhựa màu trắng được đục hai lỗ tròn, 02 ống hút nhựa màu đen có chiều dài khoảng 20cm và 01 bật lửa gas màu đỏ, hiện tại đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK2025/25 ngày 13/01/2025;
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme UI, màu xanh, kiểu máy RMX3834, bên trong có lắp sim in dãy số 8984048000904405869 tương ứng với số điện thoại 0981.334.xxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu xám, số IMEI 1: 357377090524571, số IMEI 2: 357377090633851, bên trong lắp sim in dãy số 8984048000927631712 tương đương với số điện thoại 0586.567.xxx, hiện đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu nhập kho số NK2025/25 ngày 13/01/2025.
  5. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt hai bị cáo. Hai bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - CQĐT Công an thị xã Nghi Sơn;
  • - CQTHAHS Công an thị xã Nghi Sơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Bắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2025/HS-ST ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 05/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoản 23 giờ ngày 29/8/2024 Nguyễn Duy Tuân và Trần Văn Quân đã có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger