Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 05/2024/HS-ST

Ngày 10-12-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Hoà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Tuyến

Bà Hà Thị Nở

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải – Thẩm tra viên TAND tỉnh Lai Châu

- Đại diện VKSND tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà:

Bà Dương Thị N - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2024/TLST-HS ngày 15/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Trần Thị Phương T – sinh năm 1984 tại P - Phú Thọ;

    Nơi cư trú: tổ dân phố H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: giáo viên; trình độ học vấn: 12/12; chức vụ đảng, đoàn thể, chính quyền trước khi phạm tội: Hiệu trưởng trường mầm non D2, Bí thư chi bộ trường mầm non D2 thuộc Đảng bộ xã D huyện P (bị cáo bị Uỷ ban kiểm tra huyện uỷ Phong Thổ đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 02/02/2024); dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần S, sinh năm 1957 và con bà Phạm Thị Hải D, sinh năm 1958; bị cáo có chồng là Ngô Văn T1, sinh năm 1978 và có 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/01/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà.

  2. Trần Thị V - sinh năm 1985 tại Chương M - Hà Nội;

    Nơi thường trú: thôn L, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội; Nơi tạm trú: bản H, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: kế toán; trình độ học vấn: 12/12; chức vụ đảng, đoàn thể, chính quyền trước khi phạm tội: kế toán trường mầm non D2, huyện P, là Đảng viên Đ (bị cáo bị Uỷ ban kiểm tra huyện uỷ Phong Thổ đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 14/5/2024); dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh T2, sinh năm 1965 và con bà Đoàn Thị N1, sinh năm 1964; bị cáo có chồng là Hồ Văn N2, sinh năm 1985 và có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/4/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà.

  3. Đèo Thị L - sinh năm 1992 tại P - Lai Châu;

    Nơi cư trú: bản H, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: giáo viên; trình độ học vấn: 12/12; Bị cáo là Đảng viên Đ (bị cáo bị Uỷ ban kiểm tra huyện uỷ Phong Thổ đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 02/02/2024); dân tộc: thái; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đèo Văn K, sinh năm 1969 và con bà Vàng Thị X, sinh năm 1972; bị cáo chưa có chồng con; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/01/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại:

Trường mầm non D2, huyện P, tỉnh Lai Châu

Đại diện bị hại: bà Nguyễn Trang B, sinh năm 1985; chức vụ: Hiệu phó trường mầm non D2, huyện P, tỉnh Lai Châu; (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (đại diện hội cha mẹ học sinh trường mầm non D2 năm học 2020 - 2021:

  • Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; Nơi cư trú: bản H, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; (vắng mặt)

  • Chang A K3, sinh năm 1983; Nơi cư trú: bản Dền Thàng B, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu. (có mặt)

Người làm chứng:

  • Mai Thị C, sinh năm 1992; Nơi cư trú: khu D, xã X, huyện L, tỉnh Phú Thọ; (vắng mặt)

  • Thào A K1, sinh năm 1989; Nơi cư trú: bản H, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; (có mặt)

  • Lê Văn K2, sinh năm 1970; Nơi cư trú: bản H, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; (vắng mặt)

  • Nguyễn Thị T3, sinh năm 1968; Nơi cư trú: thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; (vắng mặt)

  • Phạm Thị V1, sinh năm 1978; Nơi cư trú: bản H, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; (vắng mặt)

  • Nguyễn Thị H1, sinh năm 1993; Nơi cư thôn L, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; (vắng mặt)

  • Đỗ Thị L1, sinh năm 1978; Nơi cư trú: xã C, huyện Q, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

Những người được toà án triệu tập:

  • Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1973; chức vụ và nơi công tác: Giám đốc Kho bạc nhà nước huyện P, tỉnh Lai Châu; (có mặt)

  • Ông Khổng Văn T4, sinh năm 1978; chức vụ và nơi công tác: Trưởng phòng Giáo dục và đào tạo huyện P, tỉnh Lai Châu; (có mặt)

  • Ông Đỗ Văn Q, sinh năm 1984; chức vụ và nơi công tác: Trưởng phòng Tài chính kế hoạch huyện P, tỉnh Lai Châu; (vắng mặt)

  • Ông Lê Trọng C1, sinh năm 1989; chức vụ và nơi công tác: kế toán phòng Lao động TB&XH huyện P (nguyên là kế toán phòng Tài chính kế hoạch huyện P, tỉnh Lai Châu). (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của các bị cáo

Trường mầm non D2 có trụ sở tại xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu là đơn vị sự nghiệp, có tư cách pháp nhân, trực thuộc phòng Giáo dục và đào tạo huyện P, tỉnh Lai Châu. Chủ tài khoản trong năm 2021 là Trần Thị Phương T (theo Quyết định bổ nhiệm chức vụ Hiệu trưởng 2689/QĐ-UBND, ngày 14/9/2018 của UBND huyện P), Trần Thị V là kế toán (theo Quyết định số 2184/QĐ-UBND, ngày 20/8/2020 của UBND huyện P), Đèo Thị L là giáo viên được giao nhiệm vụ kiêm thủ quỹ của Trường mầm non D2 (theo Quyết định về việc phân công nhiệm vụ cán bộ, giáo viên, nhân viên trường mầm non D2 – 2021 và năm học 2021 -2022).

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, sau khi rút số tiền 685.033.500 đồng là tiền hỗ trợ cho trẻ ăn trưa năm 2021 cho trẻ mầm non ở xã, thôn đặc biệt khó khăn theo Nghị quyết số 11/2020/NQ-HĐND, ngày 10/7/2020 của HĐND tỉnh L quy định mức hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ từ 24 tháng tuổi đến dưới 36 tháng tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu (viết tắt là Nghị quyết số 11) và Nghị định số 105/2020/NĐ-CP, ngày 08/9/2020 của Chính phủ quy định về chính sách phát triển giáo dục mầm non (viết tắt là Nghị định số 105), lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, T không sử dụng hết số tiền này để mua thực phẩm nấu ăn trưa cho trẻ em mà chỉ đạo V, L giảm khẩu phần ăn của trẻ để chiếm đoạt số tiền 345.305.500 đồng. Cụ thể như sau:

Năm 2021 trường mầm non D2 được giao tổng dự toán kinh phí thực hiện chính sách theo Nghị quyết số 11 và Nghị định số 105 là 686.490.000 đồng. Số tiền này, nhà trường và phụ huynh thống nhất để trường giữ lại tổ chức mua thực phẩm nấu ăn trưa cho trẻ tại trường. Trên cơ sở đó, T chỉ đạo V lập danh sách học sinh được hỗ trợ, sau đó chuyển cho giáo viên chủ nhiệm của các lớp xin chữ ký của phụ huynh học sinh rồi chuyển lại cho V để lập hồ sơ quyết toán tổng số tiền 685.033.500 đồng cho 02 nguồn: kinh phí hỗ trợ tiền ăn cho trẻ từ 03 – 05 tuổi theo Nghị định số 105 là 665.440.000 đồng và kinh phí hỗ trợ tiền ăn cho trẻ từ 24 – 36 tháng tuổi theo Nghị quyết số 11 là 19.593.500 đồng. Trên cơ sở báo cáo và hồ sơ quyết toán là thanh toán trực tiếp cho phụ huynh của trường mầm non D2, huyện P, phòng Tài chính - Kế hoạch huyện P ban hành Thông báo xét duyệt quyết toán ngân sách năm học 2021 đối với tổng số tiền 685.033.500 đồng, chuyển sang dự toán năm sau là 1.456.500 đồng (theo Thông báo số 61/TB-TCKH, ngày 30/5/2022 của phòng Tài chính - Kế hoạch huyện P). Thực tế quản lý, sử dụng số tiền 685.033.500 đồng như sau:

[1] Rút tiền và quản lý, sử dụng: V lập giấy rút dự toán và trình T ký xác nhận, sau đó, L đến ngân hàng rút tiền mặt, tổng số tiền rút về trong năm 2021 là 685.033.500 đồng. Trong đó, tiền hỗ trợ ăn trưa từ tháng 1 – tháng 5 năm 2021 là 295.672.500 đồng; tiền hỗ trợ ăn trưa từ tháng 9 – tháng 12 năm 2021 là 389.361.000 đồng. Rút được tiền về quỹ, L cất giữ, quản lý, thực hiện việc chi trả tiền mua thực phẩm theo sự chỉ đạo của T.

[2] Xây dựng và phê duyệt thực đơn: T chỉ đạo V xây dựng biểu thực đơn trình T để duyệt. Trong một tháng thì thực đơn của tuần thứ nhất và tuần thứ 3 là giống nhau; của tuần thứ 2 và tuần thứ 4 là giống nhau. Thực đơn hàng ngày gồm 02 món, bao gồm 01 món chính như thịt lợn hoặc chả cá hoặc trứng, món phụ như canh rau, đậu phụ. Thực đơn các ngày trong tuần được V thay đổi. Trên cơ sở tính toán tổng số tiền được hỗ trợ ăn trưa cho các học sinh được thụ hưởng, V chia đều số tiền các ngày đi học trong tháng để xác định số tiền hỗ trợ trong một ngày, sau đó, dựa trên đơn giá thực phẩm đã tham khảo trên thị trường và của một số đơn vị trường lân cận khu vực D để xác định định lượng, định mức thực phẩm trong một ngày ăn trưa của các học sinh. Sau khi thiết lập biểu thực đơn trên, V trình Thanh duyệt. Khi duyệt, T điều chỉnh giảm số lượng, khối lượng trên thực đơn (giảm khẩu phần ăn) của học sinh so với định lượng ban đầu và chuyển cho chị Mai Thị C (là giáo viên kiêm thủ kho của trường) để tiếp nhận, kiểm tra số lượng thực phẩm của các nhà cung cấp (là tổ chức và cá nhân do T và V liên hệ trước) và giao cho bộ phận nhà bếp sử dụng nấu bữa trưa cho trẻ.

[3] Thanh toán tiền mua thực phẩm: khi tiếp nhận thực phẩm chị C có ghi lại số lượng thực phẩm vào sổ theo dõi nhập thực phẩm. Khi các nhà cung cấp thực phẩm báo số tiền công nợ để nhà trường thanh toán thì L lấy sổ ghi chép của chị C để đối chiếu, so sánh thực phẩm đã mua vào sổ bán hàng của nhà cung cấp thực phẩm, thấy trùng khớp về số lượng thực phẩm trên hai sổ thì L chi trả, thanh toán tiền mua thực phẩm cho các nhà cung cấp. Tổng số tiền L dùng để thanh toán, chi trả mua thực phẩm nấu ăn trưa trong năm 2021 là 308.353.000 đồng, bao gồm:

  • [3.1] Chi trả tiền mua thực phẩm nhà cung cấp Vinh Tho là 60.656.000 đồng;

  • [3.2] Chi trả tiền mua cà chua của cô Nguyễn Trang B là 3.730.000 đồng;

  • [3.3] Chi trả tiền mua rau của các giáo viên trong trường là 31.350.000 đồng;

  • [3.4] Chi trả tiền mua thực phẩm nhà Hai Luyện là 16.675.000 đồng;

  • [3.5] Chi trả tiền mua đậu phụ nhà Kim L2 là 19.104.000 đồng;

  • [3.6] Chi trả tiền mua trứng của anh T5 là 16.330.000 đồng;

  • [3.7] Chi trả tiền mua thực phẩm nhà V là 170.050.000 đồng;

  • [3.8] Chi trả tiền mua bánh kẹo liên hoan cho học sinh là 458.000 đồng.

[4] Số tiền chiếm hưởng: sau khi chi trả số tiền 308.353.000 đồng trên, số tiền còn lại là 376.680.500 đồng, theo sự chỉ đạo của T, L đã chuyển toàn bộ số tiền còn lại này cho T bằng việc đưa tiền mặt hoặc chuyển vào tài khoản của T. Nhận được 376.680.500 từ L thì T đã dùng 31.375.000 đồng để chi trả tiền mua chả cá phục vụ nấu ăn trưa cho học sinh, số tiền còn lại là 345.305.500 đồng Thanh sử dụng vào mục đích cá nhân và chi vào hoạt động chung của nhà trường.

Để đối phó với sự kiểm tra cũng như sự giám sát của đại diện ban phụ huynh nhà trường, T chỉ đạo V lập khống 01 bộ hồ sơ chứng từ ăn trưa từ tháng 1 – tháng 5 và từ tháng 9 – tháng 12 năm 2021 thể hiện việc chi trả, thanh toán mua thực phẩm đúng với số tiền hỗ trợ ăn trưa của học sinh nhằm hợp thức hoá việc sử dụng hết tổng số tiền 685.033.500 đồng.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Thị Phương T, Trần Thị V và Đèo Thị L đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra cùng các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra. Về số tiền chiếm đoạt, T khai nhận sử dụng như sau: một phần chi tiêu cá nhân và một phần phục vụ các hoạt động của nhà trường. Tuy nhiên, quá trình điều tra không đủ căn cứ xác định việc bị cáo phục vụ các hoạt động của nhà trường và tại phiên toà, bị cáo cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào chứng minh về việc bị cáo sử dụng vào các hoạt động của nhà trường. Do đó, xác định số tiền mà bị cáo chiếm đoạt là 345.305.500 đồng, bị cáo đã tiêu xài cá nhân.

Về các vấn đề khác của vụ án

Đối với Mai Thị C với vai trò là thủ kho, thực hiện việc thông báo và tiếp nhận thực phẩm đúng, đủ với số lượng thực phẩm trên biểu thực đơn do Trần Thị V chuyển lại. Mai Thị C không biết và không tham gia giúp sức cho các bị cáo trong việc chiếm đoạt tiền hỗ trợ ăn trưa cho trẻ em nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với phòng Tài chính - Kế hoạch huyện P đã xét duyệt báo cáo quyết toán năm 2021 trên cơ sở tài liệu, chứng từ của trường mầm non D3 San trình lên, trong tài liệu, chứng từ đề nghị quyết toán thể hiện nhà trường chi trả hỗ trợ bằng tiền mặt, có xác nhận, ký nhận nên quá trình xét quyết toán không phát hiện hành vi phạm tội của các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và ý kiến của bị hại, người liên quan tại phiên toà:

Bị hại (trường mầm non D2) yêu cầu các bị cáo hoàn trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 345.305.500 đồng cho trường mầm non D2 để nhà trường chi trả lại cho phụ huynh bị thiệt hại do hành vi phạm tội của các bị cáo (hiện số tiền này đã được các bị cáo khắc phục và nộp lai cho cơ quan điều tra trong quá trình điều tra vụ án). Bên cạnh đó, đại diện bị hại cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi liên quan có mặt tại phiên toà (ông Chang A K3 là đại diện hội cha mẹ học sinh trường mầm non D2 năm học 2021 -2022) yêu cầu các bị cáo hoàn trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 345.305.500 đồng cho trường mầm non D2, sau đó nhà trường sẽ chi trả lại cho các phụ huynh bị thiệt hại. Bên cạnh đó, người liên quan cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Về vật chứng thu giữ

Tài liệu liên quan: 09 tập chứng từ ăn trưa năm 2021; 01 quyển báo cáo quyết toán ngân sách năm 2021; 01 quyển sổ màu xanh, bao gồm 27 trang có ghi nội dung; 01 kẹp tài liệu, trang đầu có đánh máy nội dung PHÒNG GD&ĐT PHONG THỔ, TRƯỜNG MẦM NON DÀO SAN, SỐ GIAO NHẬN THỰC PHẨM, kẹp tài liệu có 23 trang có ghi nội dung; 01 quyển sổ, bìa màu đen, phía góc phải trên bìa có dập chữ BUSINESS, bao gồm 15 trang có ghi nội dung; 01 quyển sổ cá nhân màu đen, phía trên bìa có chữ Organon, bao gồm 07 trang có ghi nội dung; Thông báo số 61/TB-TCKH về xét duyệt quyết toán ngân sách năm 2021 của trườn mầm non Dào San kèm theo biểu số liệu xét duyệt quyết toán (thu giữ ở phòng Tài chính - Kế hoạch huyện P); Thông báo số 61/TB-TCKH về xét duyệt quyết toán ngân sách năm 2021 của trường mầm non D2 kèm theo biểu số liệu xét duyệt quyết toán (thu giữ của Trần Thị V). (Hiện toàn bộ tài liệu liên quan này được lưu giữ theo hồ sơ vụ án).

Tài sản: trong quá trình điều tra đã thu giữ số tiền 345.305.500 đồng do các bị cáo và gia đình giao nộp để khắc phục hậu quả (Theo uỷ nhiệm chi số 01 ngày 23/9/2024 của Kho bạc nhà nước L3, đơn vị trả tiền là phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh L và đơn vị nhận tiền là Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu), hiện số tiền này đang do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu quản lý. Quá trình điều tra đã xác định, Trần Thị Phương T cùng gia đình giao nộp là 325.760.000 đồng, Đèo Thị L giao nộp là 15.000.000 đồng, Trần Thị V giao nộp là 4.545.500 đồng.

Tại bản cáo trạng số 77/CT-VKS-P1 ngày 14/11/2024 của VKSND tỉnh Lai Châu truy tố Trần Thị Phương T, Trần Thị V, Đèo Thị L về tội "Tham ô tài sản” theo điểm d, đ khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 353, điểm s, b, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Trần Thị Phương T từ 03-04 năm tù, Trần Thị V và Đèo Thị L mỗi bị cáo từ 02-03 năm tù; xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật; không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo; cấm các bị cáo đảm nhận chức vụ, công việc trong một thời hạn nhất định sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Tại lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Trong năm 2021, trên cương vị Hiệu trưởng trường mầm non D2, huyện P, tỉnh Lai Châu, Trần Thị Phương T đã chỉ đạo Trần Thị V là kế toán nhà trường và Đèo Thị L là giáo viên kiêm thủ quỹ cắt giảm khẩu phần ăn của trẻ để chiếm đoạt một phần tiền hỗ trợ bữa trưa cho trẻ từ 24 tháng đến 05 tuổi với tổng số tiền chiếm đoạt là 345.305.500 đồng. Đây là số tiền nhà nước hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ em ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Nghị quyết số 11/2020/NQ-HĐND, ngày 10/7/2020 của HĐND tỉnh L quy định mức hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ từ 24 tháng tuổi đến dưới 36 tháng tuổi trên địa bàn tỉnh Lai Châu và Nghị định số 105/2020/NĐ-CP, ngày 08/9/2020 của Chính phủ quy định về chính sách phát triển giáo dục mầm non.

Các bị cáo Trần Thị Phương T, Trần Thị V, Đèo Thị L là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có chức vụ, quyền hạn trong quản lý, sử dụng tiền hỗ trợ ăn trưa của trẻ trong trường mầm non D2 nhưng do vụ lợi nên các bị cáo đã cắt giảm khẩu phần ăn của trẻ, lập khống chứng từ để chiếm đoạt số tiền chênh lệch là 345.305.500 đồng. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi này là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý tài chính của nhà nước, xâm phạm đến chế độ, chính sách phát triển giáo dục mầm non tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và quyền lợi của các cháu mẫu giáo mầm non của trường mầm non D2, huyện P, tỉnh Lai Châu.

Do đó, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Các bị cáo Trần Thị Phương T, Trần Thị V, Đèo Thị L từ nhỏ được gia đình nuôi dưỡng và học hành đầy đủ, sau khi ra trường có quá trình phấn đấu, rèn luyện và cống hiến nhất định trong ngành giáo dục. Trong quá trình điều tra và xét xử các bị cáo đều đã thể hiện sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, các bị cáo đã tự nguyện và thông qua gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại đã xảy ra, là những người có thành tích xuất sắc trong quá trình công tác được UBND tỉnh tặng Bằng khen, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo - theo điểm s, b, v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó, L và V có thân nhân là những người có công với đất nước được ghi nhận; bị cáo T có chồng có công tham gia công tác nhân đạo (cứu chữa hoả hoạn, đuối nước); đại diện bị hại, người liên quan đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên toà cần coi đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4] Về vai trò của các bị cáo:

Xét thấy, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T có vai trò cao nhất, bị cáo là người khởi xướng và chiếm hưởng toàn bộ số tiền phạm tội, còn các bị cáo V, L có vai trò thấp hơn, thực hiện hành vi phạm tội theo sự chỉ đạo của bị cáo T, giúp sức cho bị cáo T chiếm đoạt số tiền chênh lệch giữa kinh phí được quyết toán với kinh phí thực chi.

Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân và vai trò của mỗi bị cáo. Xét thấy, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, số tiền chiếm đoạt đã được khắc phục toàn bộ, bản thân các bị cáo chưa có tiền án tiền sự, đã có những cống hiến, đóng góp nhất định trong quá trình công tác nên toà cần quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về vật chứng của vụ án và trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử cần trả lại số tiền các bị cáo đã khắc phục là 345.305.500 đồng cho bị hại trường mầm non D2 để trường mầm non D2 xem xét hoàn trả cho phụ huynh của trẻ được hỗ trợ ăn trưa theo quy định.

[6] Về án phí hình sự: cần buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về hình phạt bổ sung: xét thấy hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, phải bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nên khó có khả năng thi hành hình phạt tiền, do đó, toà không áp dụng phạt tiền, tịch thu tài sản đối với các bị cáo. Để phòng ngừa riêng đối với các bị cáo và nhằm tránh những hậu quả nguy hại có thể tiếp tục xảy ra cho xã hội, toà cần cấm các bị cáo đảm nhận các chức vụ hoặc làm công việc trong một thời hạn nhất định kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

[8] Kiến nghị: Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Lai Châu cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát công tác quản lý, sử dụng kinh phí tại các trường học trên địa bàn nhằm ngăn ngừa các vi phạm có thể xảy ra.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Trần Thị Phương T, Trần Thị V, Đèo Thị L phạm tội “Tham ô tài sản”.

    Căn cứ vào điểm d, đ khoản 2 Điều 353, điểm s, b, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. Xử phạt:

    • - Bị cáo Trần Thị Phương T 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 25/01/2024.

    • - Bị cáo Trần Thị V 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 23/4/2024.

    • - Bị cáo Đèo thị L 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 25/01/2024.

  2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 353 của Bộ luật hình sự:

    • - Cấm bị cáo Trần Thị Phương T đảm nhận các chức vụ lãnh đạo quản lý trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù;

    • - Cấm bị cáo Trần Thị V đảm nhận chức vụ và vị trí công việc kế toán trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù;

    • - Cấm bị cáo Đèo Thị L đảm nhận chức vụ và vị trí công việc thủ quỹ trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

  3. Về vật chứng của vụ án và trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự: Trả lại cho bị hại trường mầm non D2, huyện P, tỉnh Lai Châu số tiền 345.305.500 đồng, hiện số tiền này đang do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu quản lý (Theo uỷ nhiệm chi số 01 ngày 23/9/2024 của Kho bạc nhà nước L3, đơn vị trả tiền là phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh L và đơn vị nhận tiền là Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu).

  4. Án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội: mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND và VKSND Cấp cao tại HN;
  • - VKS, CA, Cục THADS tỉnh;
  • - Sở Tư pháp Lai Châu (P.Lý lịch TP);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh;
  • - Các bị cáo, BH, NCQLNVLQ;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Hoà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU về tham ô tài sản

  • Số bản án: 05/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger