|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2024/HS-ST
Ngày 10.12.2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Khởi.
Bà Lê Việt Hà.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hằng- Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:05/2024/TLST - HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn N; Sinh ngày 27 tháng 9 năm 1993 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn X, sinh năm 1967 (đã chết) và bà Ngô Thị H, sinh năm 1963; Vợ: Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1999 (là bị hại trong vụ án - đã ly hôn năm 2024); Con: Có 2 con (lớn sinh ngày 5/3/2015 (hiện ở với bố theo Quyết định của Tòa án, nhỏ sinh ngày 8/11/2016 (hiện ở với mẹ theo Quyết định của Tòa án) Tiền án, Tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án hình sự phúc thẩm số 49 ngày 10/6/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong bản án ngày 29/01/2021.
Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.(Bị cáo có mặt).
Bị hại:Chị Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1999.
Địa chỉ: Khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 05/7/2024, Toà án nhân dân huyện Tam Nông ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 45/2024/QĐST- HNGĐ, giữa nguyên đơn là chị Phạm Thị Thu H1, sinh ngày 03/01/1999 và bị đơn là anh Nguyễn Văn N, sinh ngày 27/9/1993. Quá trình kiểm sát quyết định giải quyết vụ án dân sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông phát hiện chị Phạm Thị Thu H1 sinh cháu Nguyễn Huy H2 ngày 05/3/2015, khi đó chị H1 mới 16 tuổi 2 tháng 2 ngày, có dấu hiệu của tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Ngày 18/8/2024, Viện kiểm sát huyện T có công văn số 198/CV-VKSTN chuyển đến Cơ quan điều tra Công an huyện T để giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan điều tra Công an huyện T đã thụ lý, phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn N khai nhận: Khoảng đầu năm 2014, Nguyễn Văn N, sinh năm 1993, nơi thường trú: Khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ quen biết và có quan hệ tình cảm với chị Phạm Thị Thu H1, sinh ngày 03/01/1999, cư trú tại xã C (nay là khu A, xã V), huyện T, tỉnh Phú Thọ. Khoảng tháng 5 năm 2014 (không xác định ngày), sau khi được hai gia đình cho tìm hiểu nhau, chị H1 đến nhà N chơi, giữa N và chị H1 đã quan hệ tình dục lần đầu với nhau tại phòng ngủ của N, tiếp đó N và chị H1 nhiều lần (không xác định số lần) quan hệ tình dục với nhau tại phòng ngủ của N. Sau đó khoảng tháng 6/2014 chị H1 phát hiện mình có thai, đến tháng 8 năm 2014 thì gia đình N và gia đình chị H1 tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương cho N và chị H1 nhưng chưa đăng ký kết hôn vì khi đó chị H1 chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi cưới, chị H1 về ở chung sống cùng gia đình N tại khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Đến ngày 05/3/2015, chị H1 sinh cháu Nguyễn Huy H2 là con chung của chị H1 và N tại Bệnh viện đa khoa huyện T (nay là Trung tâm y tế huyện T), ngày 18/3/2015 Nguyễn Văn N đi đăng ký khai sinh cho cháu Nguyễn Huy H2 tại UBND xã C (nay là UBND xã V). Quá trình chung sống, N và chị H1 có thêm một con chung là cháu Nguyễn Thị Thu H3, sinh ngày 08/11/2016. Đến ngày 06/02/2017, N và chị H1 đi đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Từ khi quan hệ tình dục lần đầu với chị H1 đến khi chị H1 đủ 16 tuổi, N và chị H1 tự nguyện quan hệ tình dục với nhau nhiều lần (không xác định số lần), cuộc sống vợ chồng lúc đầu hoà thuận, hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn. Năm 2024, chị H1 làm đơn xin ly hôn N tại Toà án nhân dân huyện Tam Nông. Ngày 05/7/2024, Tòa án nhân dân huyện Tam Nông ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn cho N và chị H1 theo Quyết định số 45/2024/QĐST-HNGĐ.
Ngày 26/9/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện T tiến hành xác định hiện trường, xác định rõ địa điểm là phòng ngủ của N, nơi N có hành vi giao cấu với chị H1 khi chị H1 chưa đủ 16 tuổi.
Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định, trưng cầu V giám định ADN của Nguyễn Văn N và cháu Nguyễn Huy H2 xác định quan hệ huyết thống cha con. Ngày 26/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung, trưng cầu V giám định bổ sung ADN của chị Phạm Thị Thu H1 xác định quan hệ huyết thống mẹ con đối với cháu Nguyễn Huy H2. Ngày 27/9/2024, V có Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 491/24/KLGĐADN-PYQG và Bản kết luận giám định bổ sung ADN số 537/24/ KLGĐADN-PYQG kết luận:
- - Nguyễn Văn N (mẫu ký hiệu M1) có quan hệ huyết thống cha - con với Nguyễn Huy H2 (mẫu ký hiệu M2), độ tin cậy 99,9999%.
- - Phạm Thị Thu H1 (mẫu ký hiệu M3) có quan hệ huyết thống mẹ - con với Nguyễn Huy H2 (mẫu ký hiệu M2), độ tin cậy 99,9999%
Tại bản cáo trạng số 36/CT- VKSTN ngày 15 tháng 11 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a,d khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1,2 Điều 51; khoản 1,2,4,5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn N phạm tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T, huyện T trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của bị cáo thì giải quyết theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Nguyễn Văn N cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù đã cho hưởng án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên không xem xét.
Về vật chứng: Không
Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]Về việc vắng mặt của bị hại: Bị hại chị Phạm Thị Thu H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa.Tuy nhiên chị H1 đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về tội danh:
[3]Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Do có tình cảm yêu đương nam nữ, khoảng tháng 5/2015, Nguyễn Văn N, sinh ngày 27/9/1993, có hành vi giao cấu với chị Phạm Thị Thu H1, sinh ngày 03/01/1999 (chị H1 chưa đủ 16 tuổi), tiếp đó N có nhiều lần giao cấu với chị H1 tại phòng ngủ của N tại khu G, xã T, huyện T, làm chị H1 có thai và sinh cháu Nguyễn Huy H2 ngày 05/3/2015.
Hành vi giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi của bị cáo Nguyễn Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội:“Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a,d khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý.Vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 145 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a, Phạm tội 02 lần trở lên;
d, Làm nạn nhân có thai”.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể quan trọng mà pháp luật công nhận và bảo vệ đó là: Sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của người chưa thành niên, sức khoẻ tình dục của trẻ em. Khi thực hiện hành vi này bị cáo đã đủ 18 tuổi, nhận thức được người bị hại là người chưa đủ 16 tuổi nhưng vẫn cố tình thực hiện việc giao cấu với bị hại nhiều lần dẫn đến có thai. Mặc dù có sự đồng thuận của người bị hại nhưng bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi đã gây ra.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Về nhân thân:Bị cáo đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử về tội:Trộm cắp tài sản đến nay đã được xóa án tích.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm sự tại Điều 52 Bộ luật Hình sự
Tình tiết giảm nhẹ:Bị cáo đã bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản nhưng đã được xóa án tích, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.Hơn nữa thời điểm phạm tội lần này của bị cáo trước khi bị cáo bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản; có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo phần nào cũng do sự thiếu hiểu biết của bị cáo, cộng với sự bồng bột của tuổi trẻ. Sau đó bị cáo và bị hại là H1 đã kết hôn với nhau, có cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, sau phát sinh quan mâu thuẫn dẫn đến bị cáo và chị H1 đã ly hôn, bị cáo có trách nhiệm trực tiêp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Huy H2. Bị hại là chị H1, có quan điểm đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án cải tạo ngoài xã hội, tạo điều kiện cho bị cáo có điều kiện để nuôi dạy con cái nên người, vì chị H1 đi làm ăn xa, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn không có ai có thể thay bị cáo chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H2 được. Mặt khác, khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội, hoàn cảnh của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng trong lần xét xử này thì không cần cách ly bị ra khỏi đời sống xã hội. Vì vậy cần xem xét xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
[7]Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về vật chứng: Không
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi vi phạm của cán bộ làm công tác khai sinh của UBND xã V, hành vi Tổ chức tảo hôn của gia đình bị cáo và gi đình chị H1, đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên toà Hội đồng xét xử đã nhắc nhở gia đình bị cáo và gia đình người bị hại đối với vi phạm như trên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a,d khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1,2 Điều 51; khoản 1,2,4,5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn N phạm tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T, huyện T trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của bị cáo thì giải quyết theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Nguyễn Văn N cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù đã cho hưởng án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về vật chứng: Không
- Về án phí:Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thơm |
Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ về hình sự (giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)
- Số bản án: 05/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn Nga phạm tội:“Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
