Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HS-PT

Ngày: 29-11-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Long

Các Thẩm phán: + Ông Đoàn Hằng Hải

+ Ông Bùi Ngọc Bính

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Linh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2024/TLPT - HS ngày 25/10/2024 đối với bị cáo Giàng A C và đồng phạm:

Do có kháng cáo của bị cáo Sùng A S và kháng nghị của Viện KSND thành phố Lai Châu đối với Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXPT-HS ngày 15/11/2024.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Sùng A S; Giới tính: Nam, sinh ngày 10/01/2007 tại tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản Sin Câu, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Sùng A C1 (sinh năm 1973) và bà Giàng Thị L1 (sinh năm 1975); Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/10/2023 tại xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Các bị cáo bị kháng nghị:

  1. Họ và tên: Giàng A L; giới tính: Nam; sinh ngày 29/01/2008 tại tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: Bản Sin Câu, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Học sinh Lớp 11B5 trường THPT Quyết Thắng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Mông; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Giàng A T (sinh năm 1987) và bà Hảng Thị C2 (sinh năm 1989); vợ, con: Chưa có; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/3/2024 tại xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Lìu Văn H; giới tính: Nam, sinh ngày 17/4/2008 tại tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: Bản Thèn Sin 1, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Lìu Văn H1 (sinh năm 1968, Đã chết) và Lò Thị T1 (sinh năm 1968); vợ, con: Chưa có; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/3/2024 tại xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Các bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo và không bị kháng nghị:

  1. Họ và tên: Giàng A C3; Giới tính: Nam, sinh ngày 27/02/2006 tại tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản Pan Khèo, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.
  2. Họ và tên: Lò Văn Đ; Giới tính: Nam, sinh ngày 02/01/2008 tại tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản Thèn Sin 1, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Sùng A S, Giàng A L, Lìu Văn H.

Ông Nguyễn Công Hưởng - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung Tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai Châu (Có mặt);

- Người bào chữa cho bị cáo: Sùng A S

Ông Hoàng Đức Anh – Luật sư Công ty Luật TNHH Indo-Pacific Legal

Địa chỉ: Tầng 2, tòa nhà GEMS, số 2, ngõ Lê Văn Lương, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. (Có mặt)

- Người đại diện theo ủy quyền cho bị cáo Sùng A S:

Anh Sùng A G, sinh năm 1997 (Anh trai của bị cáo).

Địa chỉ: Bản Sin Câu, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu (Có mặt);

- Người đại diện cho bị cáo Giàng A L:

  • + Ông Giàng A T, sinh năm 1987 (Bố đẻ của bị cáo);
  • + Bà Hảng Thị C2, sinh năm 1989 (Mẹ đẻ của bị cáo);

Cùng địa chỉ: Bản Sin Câu, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu (Có mặt);

- Người đại diện theo ủy quyền cho bị cáo Lìu Văn H:

  • + Anh Lìu Văn T2, sinh năm 1995 (Anh trai của bị cáo). (Có mặt)
  • + Chị Lìu Thị K, sinh năm 1998 (Chị gái của bị cáo). (Vắng mặt có lý do)

Cùng địa chỉ: Bản Thèn Sin 1, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu;

- Bị hại:

  • + Anh Phủ Ngắn S1, sinh năm 2004;

Địa chỉ: Bản Cung Mù Phìn, xã Lản Nhì Thàng, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu;

  • + Anh Phàn A S3, sinh năm 2000;

Địa chỉ: Bản Chiêu Sải Phìn, xã Lản Nhì Thàng, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Cháu Vàng Nguyễn Vi L2; Sinh ngày 06/3/2009

Địa chỉ: Bản Na Đông, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu

  • + Anh Sùng A G, sinh năm 1997 (Anh trai của bị cáo S)

Địa chỉ: Bản Sin Câu, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu;

  • + Bà Phu Ma M, sinh năm 1984 (Mẹ của bị hại Phủ Ngắn S1);
  • + Ông Phủ Sính P, sinh năm 1982 (Bố của bị hại Phủ Ngắn S1);

Cùng địa chỉ: Bản Cung Mù Phìn, xã Lản Nhì Thàng, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu

  • + Bà Lò Thị S2, sinh năm 1970 (Bà ngoại của bị cáo Đ).

Địa chỉ: Bản Thèn Sin 1, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu;

  • + Anh Lìu Văn T2, sinh năm 1995 (Anh trai của bị cáo H).

Địa chỉ: Bản Thèn Sin 1, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 02/3/2023, Lò Văn L3 (sinh ngày 25/5/2007, trú tại bản Thèn Sin 2, xã Thèn Sin, huyện Tam Đường) điều khiển xe mô tô Honda Wave RSX biển kiểm soát (BKS) 25N1-039.86 chở Lò Văn Đ (sinh ngày 01/01/2008, trú tại bản Thèn Sin 1, xã Thèn Sin) và Trần Văn H2 (sinh ngày 25/7/2006, trú tại bản Lở Thàng 2, xã Thèn Sin) đi chơi tại chợ đêm San Thàng, thành phố Lai Châu. Tại đây, nhóm Đ, L3, H2 gặp Giàng A C (sinh ngày 27/2/2006, trú tại bản Pan Khèo, xã Thèn Sin) điều khiển xe mô tô Honda Wave Alpha mang BKS 25N1-049.26 chở Giàng A L (sinh ngày 29/01/2008, trú tại bản Sin Câu, xã Thèn Sin) và Sùng A S (sinh ngày 10/01/2007, trú tại bản Sin Câu, xã Thèn Sin) điều khiển xe mô tô Wave Alpha mang BKS 25N1-051.25 cũng đi chơi tại chợ đêm San Thàng. Sau khi gặp nhau, 06 người rủ nhau đi lên Quảng trường nhân dân tỉnh Lai Châu chơi, H2, L3, Đ bảo C, S, L đợi ở chợ San Thàng để H2, L3, Đ về nhà L3 lấy dao phóng lợn lên Quảng trường tìm nhóm thanh niên hôm trước đánh L3 để trả thù. Khi H2, L3, Đ đang về nhà thì có Lìu Văn H (sinh ngày 17/4/2008, trú tại bản Thèn Sin 1, xã Thèn Sin) điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius mang BKS 25B1-013.57 chở Vàng Nguyễn Vi L2 (sinh ngày 06/3/2009, trú tại bản Na Đông, xã Thèn Sin) đến, L2 đưa cho C một ống tuýp sắt dài khoảng 80cm do L2 nhặt được rồi cả nhóm đứng đợi H2, L3, Đ. Một lúc sau, L3 điều khiển xe mô tô chở H2, Đ quay lại (H2 cầm 01 phóng lợn là 01 tuýp sắt tròn dài khoảng 1,5m, một đầu có gắn 01 con dao bầu) rồi cả nhóm cùng nhau đi lên Quảng trường nhân dân tỉnh Lai Châu. Trước khi đi, C có nói với cả nhóm “Lên đó gặp ai ngổ ngáo thì đánh”, cả nhóm đồng ý. Khi đang chơi ở Quảng trường nhân dân thì nghe thấy có tiếng xe mô tô nẹt bô ở khu vực phía sau toà nhà hợp khối tỉnh nên cả nhóm đi tìm xem có phải nhóm đánh L3 hôm trước không để đánh trả thù, nhưng không tìm thấy nên cả nhóm cùng nhau đi về khu vực Quảng trường.

Khoảng 22 giờ 30 phút đi đến ngã tư giao nhau đường Nguyễn Văn Linh và đường Nguyễn Đức Cảnh (thuộc tổ 17, phường Tân Phong) thì cả nhóm nhìn thấy Phủ Ngắn S1 (sinh năm 2004, trú tại bản Cung Mù Phìn, xã Lản Nhì Thàng, huyện Phong Thổ) đang điều khiển xe mô tô Honda Wave Alpha mang BKS 25P1-059.99 chở Phàn A S3 (sinh năm 2000, trú tại bản Chiêu Sải Phìn, xã Lản Nhì Thàng) đi ngược chiều theo hướng từ đường Nguyễn Văn Linh đến đường Trần Phú. Thấy xe mô tô do S1 điều khiển tắt đèn sáng, bật đèn nháy thì L3 hô “Đuổi theo” nên cả nhóm đều quay xe đuổi theo để đánh S1 và S3 (L3 điều khiển xe mô tô BKS 25N1-039.86 chở H2 cầm theo 01 con dao phóng lợn đi đầu tiên; L điều khiển xe mô tô BKS 25N1-049.26 chở C cầm theo một ống tuýp sắt đi thứ hai; S điều khiển xe mô tô BKS 25N1-051.25 chở Đ đi thứ ba; H điều khiển xe mô tô BKS 25B1-013.57 chở L2 đi sau cùng). Thấy nhóm của L3 cầm theo hung khí đuổi theo mình, sợ bị đánh nên S1 đã điều khiển xe mô tô chở S tăng ga bỏ chạy dọc theo đường Nguyễn Văn Linh đến đường Trần Phú với tốc độ khoảng 70km/h, sau đó rẽ xuống đường bờ hồ Thủy Sơn (thuộc tổ 14, phường Tân Phong) được khoảng 50m, đến đoạn đường cua S1 không làm chủ được tốc độ nên đã đâm vào lan can bờ hồ và bị ngã. Hậu quả: S3 bị thương ở vùng đầu bên trái còn S1 bị thương và gãy chân phải, xe mô BKS 25P1-059.99 bị hư hỏng.

Sau khi S1 và S3 bị ngã thì nhóm của L3 cũng đuổi đến nơi, H2 dùng phần sống dao phóng lợn đập vào vùng đầu của S1 nhưng trúng vào mũ bảo hiểm rồi S1 lăn qua lan can xuống mép hồ, hoạt không đuổi theo. C cầm tuýp sắt nhảy qua lan can vụt hai phát vào lưng của S3 (đang nằm úp mặt trên cỏ) còn L3 dùng chân đạp vào người bị chảy máu ở đầu. Sau đó L3, C quay lên cùng cả nhóm điều khiển xe mô tô đi về nhà tại xã Thèn Sin, huyện Tam Đường. Kết quả điều tra xác định việc H2, C, L3 dùng dao phóng lợn, tuýp sắt, dùng chân đánh S1 và S3 nhưng không gây thương tích gì cho S1 và S3.

Quá trình điều tra đã xác định sự việc nhóm L3, H2, C, S, L, Đ, H, L2 có hành vi điều khiển xe mô tô đi với tốc độ cao, cầm theo dao phóng lợn, tuýp sắt đuổi đánh S1 và S từ khu vực ngã tư (giao giữa đường Nguyễn Văn Linh và đường Nguyễn Đức Cảnh) đến khu vực đường bờ hồ Thuỷ Sơn trong khoảng thời gian từ 22 giờ 30 phút đến 22 giờ 45 phút ngày 02/3/2023, thời điểm các hàng quán, người và phương tiện giao thông vẫn đang hoạt động. Đã thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân.

Kết luận giám định số 72/KLTTCT-TTPYLC ngày 26/4/2023 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Lai Châu đối với thương tích của Phủ Ngắn S1 là 42% (bốn mươi hai phần trăm).

Kết luận giám định số 73/KLTTCT-TTPYLC ngày 26/4/2023 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế tỉnh Lai Châu đối với thương tích của Phàn A S3 là 9% (chín phần trăm)

Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 27/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Lai Châu kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE ALPHA, màu sơn xanh đen bạc; BKS: 25P1-059.99; tình trạng xe cũ đã qua sử dụng, bị hư hỏng nhẹ do tai nạn. Tại thời điểm định giá ngày 02/3/2023 giá trị tài sản bị hư hỏng là 2.200.000 đồng.

Quá trình điều tra, các bị can Lò Văn L3, Trần Văn H2 đã bỏ trốn nên ngày 11/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu đã ra Quyết định tách vụ án hình sự và quyết định truy nã bị can đối với các bị can Lò Văn L3 và Trần Văn H2.

* Vật chứng thu giữ, tạm giữ:

  1. Tạm giữ của Giàng A C: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu xanh bạc, BKS 25N1-049.26;
  2. Tạm giữ của Sùng A S: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn đen, BKS 25N1-051.25;
  3. Tạm giữ của Lò Văn Đ: 01 xe mô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu sơn đỏ - đen, BKS 25N1-039.86;
  4. Tạm giữ của Phủ Ngắn S1: 01 xe mô tô Honda Wave Alpha, BKS 25P1-059.99;
  5. Tạm giữ của Vàng Nguyễn Vi L2: điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6s;

* Tại phiên toà bị hại Phủ Ngắn S1 yêu cầu các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bồi thường số tiền 38.864.477 đồng. Bị hại Phàn A S3 yêu cầu bồi thường số tiền 15.000.000 đồng.

Bản án Hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 17/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu quyết định:

- Đối với Sùng A S: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 17, 58, 91, 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự Xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 54, 17, 58, 91, 98, 101 và Điều 55, 103 Bộ luật hình sự xử phạt 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo Sùng A S phải chấp hành là 04 (Bốn) năm 07 (bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, 17, 58, 91, 98, 101 và Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lìu Văn H, Giàng A L.

Xử phạt bị cáo Lìu Văn H 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án 17/9/2024.

Xử phạt bị cáo Giàng A L 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án 17/9/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Lò Văn Đ và Giàng A C; quyết định về trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 25/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu kháng nghị một phần Quyết định hình phạt đối với các bị cáo Giàng A L và Lìu Văn H. Đề nghị cấp phúc thẩm xét xử theo hướng sửa bản án sơ thẩm không cho L và H được hưởng án treo.

Ngày 30/9/2024 bị cáo Sùng A S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa:

Theo Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKSTP ngày 25/9/2024 xét thấy các bị cáo L và H phạm tội có tính chất “Côn đồ”, HĐXX sơ thẩm cho các bị cáo hưởng án treo là không đúng quy định. Tại phiên tòa phúc thẩm VKSND tỉnh Lai Châu giữ nguyên kháng nghị. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 355; Điều 357/BLTTHS chấp nhận Kháng nghị; giữ nguyên hình phạt; không áp dụng Điều 65/BLHS xử phạt bị cáo Giàng A L và Lìu Văn H mỗi bị cáo 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng Điều 355; Điều 356/BLTTHS không chấp nhận kháng cáo; giữ nguyên quyết định về hình phạt của Bản án sơ thẩm đối với bị cáo Sùng A S.

Luật sư Hoàng Đức Anh trình bày:

Đồng ý với tội danh mà VKS đã truy tố đối với bị cáo Sùng A S, nhất trí với tính chất côn đồ. Đề nghị xem xét trình độ và thời điểm nhận thức của S; xem xét vai trò và hành vi của S đã dừng lại không tiếp tục thực hiện đến cùng, không tham gia đánh các bị hại; hành vi của S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”; đề nghị HĐXX xem xét mức độ của tội “Gây rối trật tự công cộng” và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ông Nguyễn Công Hưởng – Trợ giúp viên pháp lý trình bày:

Đại diện VKS cho rằng các bị cáo Giàng A L và Lìu Văn H “côn đồ” là chưa phù hợp, côn đồ là bản chất của con người, các bị cáo khi phạm tội đều dưới 16 tuổi; phạm tội lần đầu; có nhân thân tốt; có đầy đủ 04 yếu tố xem xét đối với án treo; nhà trường có đề nghị xem xét giảm nhẹ; đã bồi thường đầy đủ; tại cấp phúc thẩm bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ. Do đó đề nghị HĐXX không chấp nhận Kháng nghị; giữ nguyên Bản án sơ thẩm đối với L và H. Nhất trí với quan điểm của Luật sư bào chữa đối với bị cáo Sùng A S.

Các bị cáo và người đại diện trình bày

Việc bồi thường cho các bị hại là hoàn toàn tự nguyện và đã thực hiện xong. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với Sùng A S; y án sơ thẩm đối với Giàng A L và Lìu Văn H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ; ý kiến của Kiểm sát viên, của Luật sư của người đại diện các bị cáo. Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về Tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Sùng A S; Quyết định kháng nghị của Viện KSND thành phố Lai Châu làm trong thời hạn luật định, hợp lệ được xem xét giải quyết. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Sùng A S; Giàng A L; Lìu Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai tại Tòa án cấp sơ thẩm và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Từ đó đủ cơ sở để xác định: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 02/3/2023, tại phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, mặc dù không có mâu thuẫn gì nhưng Lò Văn L3 (15 tuổi 9 tháng 05 ngày), Trần Văn H2 (16 tuổi 02 tháng 05 ngày), Giàng A C (17 tuổi 03 ngày), Lò Văn Đ (15 tuổi 02 tháng), Giàng A L (15 tuổi 01 tháng 02 ngày), Sùng A S (16 tuổi 01 tháng 20 ngày), Lìu Văn H (14 tuổi 10 tháng 13 ngày) cùng với cháu Vàng Nguyễn Vi L2 (13 tuổi 11 tháng 24 ngày) điều khiển 04 xe mô tô với tốc độ nhanh (khoảng 70km/h), cầm theo 01 dao phóng lợn và 01 ống tuýp sắt dài khoảng 80cm đuổi đánh Phù Phắn S1 và Phàn A S3 từ khu vực ngã tư giao đường Nguyễn Văn Linh và đường Nguyễn Đức Cảnh (thuộc tổ 17, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu) đến đường bờ hồ Thủy Sơn (thuộc tổ 14, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu) khiến S1 không làm chủ được tốc độ đã đâm vào lan can bờ hồ và S1, S3 bị ngã. Sau đó H2, C, L3 dùng dao phóng lợn, tuýp sắt, dùng chân đánh S1 và S3 nhưng không gây thương tích gì. Hậu quả việc đâm vào lan can làm Phàn A S3 tổn thương cơ thể là 9%; Phủ Ngắn S1 tổn thương cơ thể là 42%; xe mô BKS: 25P1 - 059.99 bị hư hỏng (thiệt hại 2.200.000 đồng).

Các bị cáo dùng dao phóng lợn, tuýp sắt là hung khí nguy hiểm, đuổi đánh nhau khu vực đường công cộng, nơi có nhiều quán nước, tập trung đông người qua lại, làm mất trật tự trị an nơi công cộng.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Bản thân các bị cáo nhận thức được việc tụ tập đánh nhau nơi công cộng là vi phạm pháp luật, nhưng do ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, nên cũng cần phải có mức án tương xứng để đảm bảo răn đe giáo dục đối với bị cáo.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo S: Khi phạm tội là người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, tỷ lệ thương tích của các bị hại là 42% (S1) và 09% (S3), bị cáo bị truy tố có khung hình phạt cao nhất từ 05 năm đến 10 năm tù, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, cần có mức xử phạt nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, cũng như quy định với người chưa thành niên phạm xử phạt 01 năm 03 tháng tù đối với tội “gây rối trật tự công cộng” là phù hợp, tại phiên phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới. tuy nhiên xét thấy bị cáo là người chưa thành niên và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, giảm một phần hình phạt đối với tội “Cố ý gây thương tích”.

[4] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát đối với Giàng A L và Lìu Văn H: Các bị cáo cùng tham gia với các bị cáo khác thực hiện hành vi có tính “Côn đồ”, để lại hậu quả với các bị hại do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình là phù hợp. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt mỗi bị cáo 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 năm kể từ ngày tuyên án là chưa phù hợp với quy định tại Điều 65/BLHS và tinh thần nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Nội dung kháng nghị là có căn cứ cần được chấp nhận; tuy nhiên các bị cáo không trực tiếp cầm hung khí, không trực tiếp gây thương tích cho các bị hại, khi phạm tội các bị cáo chưa đủ 16 tuổi, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; các bị hại đã được bồi thường đầy đủ và tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó cần sửa án sơ thẩm buộc các bị cáo phải chấp hành mức án tù và giảm nhẹ một phần để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[5] Đối với đề nghị của người bào chữa và những người đại diện cho bị cáo S là có căn cứ cần chấp nhận một phần.

Đối với đề nghị của người bào chữa và những người đại diện cho bị cáo L và H là không có căn cứ để chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, yêu cầu kháng cáo của bị cáo Sùng A S được HĐXX chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự đối với cả ba bị cáo; điểm d khoản 2 Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự đối với bị cáo Lùng và Hĩu. Điểm đ khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

[2] Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Sùng A S. Sửa Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đối với bị cáo S như sau:

Tuyên bố bị cáo Sùng A S phạm các tội “Gây rối trật tự công cộng” và tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 17, 58, 91, 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 54, 17, 58, 91, 98, 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng Điều 55; Điều 103 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo Sùng A S phải chấp hành là 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[3] Chấp nhận kháng nghị một phần Quyết định hình phạt của Viện kiểm sát, sửa Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu đối với các bị cáo L, H như sau:

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, 17, 58, 91, 98, 101 của Bộ luật hình sự tuyên bố các bị cáo Lìu Văn H, Giàng A L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lìu Văn H 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Xử phạt bị cáo Giàng A L 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[4] Về án phí: Bị cáo Sùng A S không phải chịu án phí HSPT.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Công an Tp Lai Châu;
  • - VKSND Tp Lai Châu;
  • - TAND Tp Lai Châu;
  • - Chi cục THADS Tp Lai Châu;
  • - Các bị cáo;
  • - Người đại diện; người bào chữa;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HS-PT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU về hình sự (phúc thẩm) về tội gây rối trật tự công cộng và cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 05/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Phúc thẩm) về tội Gây rối trật tự công cộng và Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 02/3/2023, tại phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, mặc dù không có mâu thuẫn gì nhưng Lò Văn L3 (15 tuổi 9 tháng 05 ngày), Trần Văn H2 (16 tuổi 02 tháng 05 ngày), Giàng A C (17 tuổi 03 ngày), Lò Văn Đ (15 tuổi 02 tháng), Giàng A L (15 tuổi 01 tháng 02 ngày), Sùng A S (16 tuổi 01 tháng 20 ngày), Lìu Văn H (14 tuổi 10 tháng 13 ngày) cùng với cháu Vàng Nguyễn Vi L2 (13 tuổi 11 tháng 24 ngày) điều khiển 04 xe mô tô với tốc độ nhanh (khoảng 70km/h), cầm theo 01 dao phóng lợn và 01 ống tuýp sắt dài khoảng 80cm đuổi đánh Phù Phắn S1 và Phàn A S3 từ khu vực ngã tư giao đường Nguyễn Văn Linh và đường Nguyễn Đức Cảnh (thuộc tổ 17, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu) đến đường bờ hồ Thủy Sơn (thuộc tổ 14, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu) khiến S1 không làm chủ được tốc độ đã đâm vào lan can bờ hồ và S1, S3 bị ngã. Sau đó H2, C, L3 dùng dao phóng lợn, tuýp sắt, dùng chân đánh S1 và S3 nhưng không gây thương tích gì. Hậu quả việc đâm vào lan can làm Phàn A S3 tổn thương cơ thể là 9%; Phủ Ngắn S1 tổn thương cơ thể là 42%; xe mô BKS: 25P1 - 059.99 bị hư hỏng (thiệt hại 2.200.000 đồng). Bản án Hình sự sơ thẩm số 65/2024/HS-ST ngày 17/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu quyết định: - Đối với Sùng A S: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 17, 58, 91, 98 và Điều 101 Bộ luật hình sự Xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 54, 17, 58, 91, 98, 101 và Điều 55, 103 Bộ luật hình sự xử phạt 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo Sùng A S phải chấp hành là 04 (Bốn) năm 07 (bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. - Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, 17, 58, 91, 98, 101 và Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lìu Văn H, Giàng A L. Xử phạt bị cáo Lìu Văn H 02 (hai) năm tù về tội“Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án 17/9/2024. Xử phạt bị cáo Giàng A L 02 (hai) năm tù về tội“Cố ý gây thương tích”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án 17/9/2024. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Lò Văn Đ và Giàng A C; quyết định về trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Ngày 25/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu kháng nghị một phần Quyết định hình phạt đối với các bị cáo Giàng A L và Lìu Văn H. Đề nghị cấp phúc thẩm xét xử theo hướng sửa bản án sơ thẩm không cho L và H được hưởng án treo. Ngày 30/9/2024 bị cáo Sùng A S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger