|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:05/2024/HS-ST Ngày: 26/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
* Tại điểm cầu trung tâm.
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Xuân Thu.
- Các hội thẩm nhân dân: Bà La Thị Thành; Ông Đinh Công Vương.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 26/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2024/TLST-HS, ngày 10/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS, ngày 15/11/2024 đối với bị cáo:
*Tại điểm cầu thành phần, nhà tạm giam Công an huyện T.
Hoàng Văn N - Sinh ngày 17/6/1999, tại huyện T, tỉnh Lai Châu.
Nơi cư trú: Bản M, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn C – sinh năm 1977 và bà: Lò Thị V – sinh năm 1976; Gia đình có 3 anh, em bị cáo là con thứ hai; Vợ: Hà Thị D – sinh năm 2002; Bị cáo có 01 con.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 05/5/2024, tạm giam từ ngày 14/5/2024, hiện bị cáo đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T. (Có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Lò Văn V1 – sinh năm 1988.
Trú tại: Bản T, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt)
- Người làm chứng:
- Lò Văn B.
- Lò Văn L. (Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo Hoàng Văn N khai nhận: khoảng 17 giờ 30 ngày 04/5/2024, Hoàng Văn N điều khiển xe mô tô đi từ nhà tại bản Mùi 2, xã K, huyện T đến bản T, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu, mục đích tìm mua Heroine sử dụng và bán kiếm lời. Tại bản Tà Lồm, Hoàng Văn N gặp Lò Văn V1 (sinh năm 1988, cư trú tại bản T, xã K, huyện T). Qua nói chuyện, N đưa cho V1 số tiền 600.000 đồng nhờ V1 đi mua hộ H, V1 đồng ý nhận tiền từ N rồi đi đâu đó, một lúc sau quay lại đưa cho N 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh giấy màu trắng có chữ).
Mua được H, Hoàng Văn N mang về nhà tại bản Mùi 2, xã K, huyện T cấu lấy một ít sử dụng bằng hình thức chích. Số Heroine còn lại, N cất giấu tại khe cột trong nhà, không cho ai biết. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi Hoàng Văn N đang ở nhà thì có Lò Văn B (sinh năm 2003) và Lò Văn L (sinh năm 2005), đều cư trú tại bản Mùi 2, xã K, huyện T đến nhà gặp N. B là người trực tiếp hỏi N mua H, B đưa cho N 200.000 đồng, N cầm tiền rồi lấy gói Heroine cất giấu trong khe cột nhà ra, cấu lấy một ít chia thành 02 gói rồi gói lại (bằng mảnh giấy màu trắng có chữ) bán cho B. Số Heroine còn lại, N cất giấu vào khe cột nhà. Mua được H, B và L mang về cùng nhau sử dụng hết bằng hình thức chích. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 05/5/2024, Lò Văn B và Lò Văn L tiếp tục đến nhà Hoàng Văn N hỏi mua Heroine. Khi đến nhà N, L đứng bên ngoài hiên nhà N đợi, còn B đi vào trong nhà gặp N hỏi mua Heroine. B đưa cho N số tiền 100.000 đồng để mua Heroine, N nhận tiền rồi lấy gói Heroine ra, cấu lấy một ít cho vào mảnh giấy màu trắng (có chữ) gói lại bán cho B. Mua được H, B và L mang ra bụi cây ven đường thuộc địa phận bản Mùi 2, xã K, huyện T sử dụng bằng hình thức hít thì bị Công an xã K lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hồi 08 giờ 30 phút cùng ngày. Vật chứng thu giữ của B và L 01 mảnh giấy bạc đã than hóa, 01 bật lửa ga màu vàng.
Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Văn N, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ của Hoàng Văn N số tiền 540.000 đồng. Khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Hoàng Văn N, thu giữ 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh giấy màu trắng có chữ).
Trên cơ sở lời khai của Hoàng Văn N về nguồn gốc Heroine nhờ Hà Văn V2 mua hộ, Cơ quan điều tra đã triệu tập lấy lời khai, đấu tranh, đối chất giữa Hà Văn V2 với Hoàng Văn N nhưng Hà Văn V2 không thừa nhận mua hộ Heroine như Hoàng Văn N đã khai báo.
Tại bản kết luận giám định tư pháp số 674 ngày 05/5/2024 của người giám định theo vụ việc Công an huyện T và kết luận giám định số 529 ngày 07/5/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Hoàng Văn N có khối lượng 0,42 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin).
Tại bản kết luận giám định số 628 ngày 08/5/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: số tiền 540.000 đồng thu giữ của Hoàng Văn N là tiền thật.
Vật chứng của vụ án gồm: 0,42 gam Heroine, Cơ quan điều tra trích gửi giám định 0,19 gam, còn lại: 0,23 gam; 01 mảnh giấy màu trắng có chữ; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu vàng và số tiền 540.000 đồng, hiện đang được lưu giữ, bảo quản theo quy định.
Tại bản cáo trạng số: 126/CT –VKS, ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố bị cáo Hoàng Văn N về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện T trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Đề nghị HĐXX Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N từ 7 năm 06 tháng đến 8 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 0,23 gam Heroine; 01 mảnh giấy màu trắng có chữ; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu vàng. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 300.000đồng. Trả lại cho bị cáo số tiền 240.000 đồng.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
Bị cáo Hoàng Văn N không có ý kiến tranh luận gì đối với quan điểm của vị đại diện Kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo được sớm trở về hòa nhập với gia đình, xã hội, tự sửa chữa sai lầm để làm người có ích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 04/5/2024, tại bản Tà Lồm, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu, Hoàng Văn N đã mua trái phép 01 gói Heroine với số tiền 600.000 đồng. Sau đó, N mang Heroine về nhà bản Mùi 2, xã K, huyện T chia thành nhiều gói nhỏ, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Hoàng Văn N đã bán trái phép cho Lò Văn B 01 gói Heroine lấy 200.000 đồng. Đến khoảng 06 giờ 30 ngày 05/5/2024, Hoàng Văn N tiếp tục bán trái phép 01 gói Heroine cho Lò Văn B lấy 100.000 đồng. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Văn N, C1 qua điều tra thu giữ số tiền 540.000 đồng; khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Hoàng Văn N, thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,42 gam.
Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ pháp luật, mức án đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Bị cáo chính là nạn nhân của ma túy, nên hiểu hơn ai hết: Heroine là chất ma túy gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nên Nhà nước nghiêm cấm và xử phạt nghiêm khắc. Vì mục đích thu lời và để có chất ma túy sử dụng, bị cáo đã bất chấp pháp luật. Trong các ngày 04 và 05/5/2024, Hoàng Văn N đã hai lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xét giảm phần nào khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo. Đây cũng là căn cứ, lý do để cho bị cáo Hoàng Văn N được hưởng mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà vị Kiểm sát nhân dân đề nghị áp dụng đối với bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, theo quy định của Bộ luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung. Nhưng theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy gia đình bị cáo đang khó khăn, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ nghề nghiệp gì, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,23 gam Heroine; 01 mảnh giấy màu trắng có chữ; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu vàng. Xét thấy số vật chứng này là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 540.000 đồng thu giữ của bị cáo, trong đó có 300.000 đồng do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mà có, nên cần tịch thu xung ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại 240.000 đồng xét không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.
Về nguồn gốc H, bị cáo Hoàng Văn N khai nhờ Lò Văn V1 (sinh năm 1988; cư trú tại bản T, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu) mua hộ. Quá trình điều tra, Lò Văn V1 không thừa nhận, Ngoài lời khai của bị cáo Hoàng Văn N, không còn tài liệu nào khác để chứng minh Lò Văn V1 mua hộ Heroine cho Hoàng Văn N nên chưa có đủ căn cứ để kết luận và xử lý đối với Lò Văn V1.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lò Văn B và Lò Văn L, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa bị cáo xin được miễn toàn bộ, nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
-Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
-Căn cứ khoản 2 Điều 106;135;136;331;333 Bộ luật tố tụng hình sự.
-Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/5/2024.
- Về vật chứng:
- - Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,23 gam Heroine; 01 mảnh giấy màu trắng có chữ; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu vàng.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng). Trả lại cho bị cáo số tiền 240.000 đồng ( hai trăm bốn mươi ngàn đồng).
- (Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên lập ngày 10/10/2024 ).
- Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn N.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có QLNVLQ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Xuân Thu |
Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 7 năm 6 tháng tù
