|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2024/HSST Ngày: 07/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, ông: Lò Xuân Hải.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông: Lù Thanh Xá.
Bà: Lý Thị The.
- Thư ký phiên tòa, bà: Dương Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh L tham gia phiên tòa, bà: Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên. Là kiểm sát viên dự khuyết, theo quyết định số: 86/QĐ-VKS-MT, ngày 04/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh L.
Trong ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2024/TL-ST-HS, ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo.
- Lò Nhù T: Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 15/10/2004; tại: Xã T, huyện M, tỉnh L; nơi thường trú: Bản L, xã T, huyện M, tỉnh L; nơi ở hiện tại: Bản L, xã T, huyện M, tỉnh L; thẻ CCCD: [...]; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: La Hủ; tôn giáo: Không; đảng, đoàn: Không; con ông Lò Phý X ( đã chết) và con bà Pờ Nhù B, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân chưa bị xử lý; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/06/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh L - Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lò Nhù T, bà: Nông Thị Bích H - Là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ, ngày 25/06/2024, Lò Nhù T, đi bộ từ bản L sang bản T, xã T, để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến khu dân cư Chòm Phú Thơ thuộc bản T, T gặp một người đàn ông dân tộc La Hủ lạ mặt, đang đứng cạnh một chiếc xe máy ở ven đường, T đi lại gần và hỏi mua Heroine, thì được người đàn ông này bán cho T, 06 gói Heroine (trong đó: 05 gói đều được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu xanh và 01 gói được gói bằng một mảnh nilon màu hồng) với giá 150.000 đồng. T đem 05 gói Heroine gói bằng mảnh nilon màu xanh gói chung lại thành 01 gói bằng mảnh nilon màu hồng, rồi cất giấu vào trong quần bên phải đang mặc trên người (bằng cách xắn gấu quần lên). Gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng còn lại, T mang đến bụi cây ven đường cách đó khoảng 500m, rồi lấy ra một ít sử dụng, phần còn lại T đem gói lại như cũ cất giấu vào gấu quần bên trái đang mặc trên người và tiếp tục đi bộ về nhà. Vào hồi 14 giờ 30 phút cùng ngày 25/06/2024, khi T đi qua tổ công tác Biên phòng thuộc bản T, xã T, huyện M, tỉnh L, khoảng 100m thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Ka L đang làm nhiệm vụ yêu cầu T dừng lại để kiểm tra, quá trình kiểm tra đã phát hiện, thu giữ 06 gói Heroine mà T đang cất giấu trong gấu quần như đã nói trên. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại kết luận giám định số: 88/KLGĐ-CA, ngày 26/06/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện M, kết luận: 06 gói chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lò Nhù T có tổng khối lượng là 0,55 gam.
Tại bản kết luận giám định số: 855/GĐ-KTHS ngày 27/06/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh L, kết luận: 06 mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lò Nhù T, gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.
Tại bản cáo trạng số: 86/CT-VKS-MT ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố Lò Nhù T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:
- - Trách nhiệm hình sự: Đối với Lò Nhù T về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- - Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Nhù T, từ: 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện kinh tế của bị cáo.
- - Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:
- +. 02 mảnh nilon màu hồng;
- +. 05 mảnh nilon màu xanh;
- +. 01 phong bì thư do Bưu điện phát hành, xung quanh có viền xanh đỏ, đã bị cắt một đầu.
- +. Đối với 0,55 gam Heroine. Đồn biên phòng Ka L, huyện M đã giử toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý.
- - Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Nhù T.
Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích tính chất, hành vi, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, người bào chữa đồng ý với nội dung cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện M. Về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất 01 năm 06 tháng tù của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đề nghị đối với bị cáo, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 14 giờ 30 phút, ngày 25/06/2024 tại đoạn đường cách tổ công tác Biên phòng, thuộc bản T, xã T, huyện M, tỉnh L, khoảng 100m. Lò Nhù T, đang có hành vi cất giấu trái phép 0,55 gam Heroine, với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Ka L, huyện M, tỉnh Lai C phát hiện, bắt quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội. Bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
[2]. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Lò Nhù T luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo. Nhận thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản L, xã T, huyện M, tỉnh L, là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Nhù T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5]. Về nhân thân: Bị cáo Lò Nhù T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 09/12, lớn lên ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, là người sử dụng chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã cố ý phạm tội.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản L, xã T, huyện M, tỉnh L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[7]. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng thu giữ còn lại của bị cáo Lò Nhù T, bao gồm:
- - 02 mảnh nilon màu hồng;
- - 05 mảnh nilon màu xanh;
- - 01 phong bì thư do Bưu điện phát hành, xung quanh có viền xanh đỏ, đã bị cắt một đầu;
- - Đối với 0,55 gam Heroine. Đồn biên phòng Ka L, huyện M đã giử toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản L, xã T, huyện M, tỉnh L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo.
[9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Lò Nhù T đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy ý kiến của Kiểm sát viên và của người bào chữa tại phiên tòa về: Tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10]. Đối với đề nghị cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất 01 năm 06 tháng tù của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đề nghị, của người bào chữa, xét thấy: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự, Bị cáo là người dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, bản thân là người nghiện chất ma túy, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản L, xã T, huyện M, tỉnh L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy khi nghị án lượng hình Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc, chấp nhận.
[11]. Đối với người đàn ông dân tộc La Hủ lạ mặt, đã bán 06 gói Heroine với giá 150.000 đồng cho bị cáo Lò Nhù T. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- - Tuyên bố bị cáo: Lò Nhù T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- - Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Nhù T: 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Lò Nhù T, bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 25/06/2024.
- - Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Lò Nhù T.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng thu giữ còn lại của bị cáo Lò Nhù T, bao gồm:
- +. 02 mảnh nilon màu hồng;
- +. 05 mảnh nilon màu xanh;
- +. 01 phong bì thư do Bưu điện phát hành, xung quanh có viền xanh đỏ, đã bị cắt một đầu;
- +. Đối với 0,55 gam Heroine. Đồn biên phòng Ka L, huyện M đã giử toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Nhù T.
- - Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lò Xuân Hải |
Bản án số 05/2024/HSST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Nhù T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
