|
TAND HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 05/2024/HS-ST Ngày 02-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Tuyết Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Chiên
2. Ông Đèo Văn Vĩnh
- Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã S, Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xét xử sơ thẩm công khai, lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HS ngày 21/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hảng A D1; giới tính: Nam; sinh năm 1968; Nơi sinh: huyện P, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: bản C, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Hảng A L, đã chết và con bà Giàng Thị M, đã chết; Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; Vợ: Lù Thị D, sinh năm 1978; Con: có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/6/2024 đến ngày 21/6/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L, đến ngày 12/9/2024 chuyển đến Nhà tạm giữ Công an huyện P tạm giam cho đến nay. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh H - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 12/6/2024, Hảng A đi bộ một mình đến nhà của Sùng A P, sinh năm 1978 trú tại bản Sân Bay, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu hỏi mua Heroine sử dụng. Qua nói chuyện, D1 mua của P 02 gói Heroine giá 100.000 đồng. Mua được H1, D1 đi về và đã xin đi nhờ xe của một người đàn ông không rõ tên, địa chỉ đi về nhà. Khi đến cây xăng ở bản S, xã S, huyện P, D xuống xe, còn người đàn ông điều khiển xe rời đi luôn. Hồi 19 giờ 20 phút cùng ngày, khi đang đứng tại khu vực cây xăng thì D1 bị Đồn Biên phòng S, huyện P phát hiện, thấy tổ công tác Dơ đã thả 02 gói Heroine xuống tại vị trí Dơ đứng, tổ công tác giải thích, vận động nên D1 nhặt lên nhưng D1 không chấp hành sau đó tổ công tác mời người chứng kiến đến chứng kiến việc nhặt và thu giữ 02 gói Heroine. Lúc này D1 đã khai nhận 02 gói Heroine gói trong chiếc lá là của D1 mua về cất giấu để sử dụng. Cùng ngày S tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở của Sùng A P nhưng không thu giữ gì.
Tại bản Kết luận giám định số 741 ngày 13/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 02 gói chất bột màu trắng thu giữ của Hảng A, có tổng khối lượng 0,15 gam, là ma túy loại Heroine.
Bản cáo trạng số 97/CT-VKS ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Hảng A D1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về bản kết luận điều tra số 89/KLĐT ngày 09/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện P và bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự và xử lý vật chứng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt và áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa.
2
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia phiên tòa người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 19 giờ 20 phút ngày 12/6/2024, tại bản Sân Bay, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, bị cáo Hảng A D1 đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 02 gói Heroine có khối lượng 0,15 gam, mục đích để sử dụng thì bị S, Bộ đội Biên phòng tỉnh L phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, quan điểm đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo nghiện ma túy nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, khi công an phát hiện bắt quả tang xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test nhanh kết quả xác định trong nước tiểu của bị cáo phát hiện có ma túy nhóm O (M, Heroine); bị cáo không có công việc ổn định, thường xuyên có mối quan hệ với các đối tượng nghiện chất ma túy.
3
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không biết chữ nên nhận thức pháp luật rất hạn chế. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm khắc trên mức khởi điểm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cai nghiện ma túy và răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Vì vậy, đề nghị của người bào chữa cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt Hội đồng xét xử thấy không phù hợp nên không chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, nguồn thu thấp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 0,15 gam Heroine thu giữ của bị cáo, đã lấy toàn bộ gửi giám định chất ma túy (không hoàn lại mẫu vật) nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vật chứng còn lại gồm: 02 mảnh nilon màu trắng, bao bì niêm phong ban đầu, 01 chiếc lá cây là vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Hảng A D1 khai mua của Sùng A P. Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai Sùng A P, đối chất giữa D1 và P nhưng P không thừa nhận việc bán Heroine cho D1. Ngoài lời khai của D1, quá trình điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh. Do vậy, không đủ căn cứ kết luận Sùng A P thực hiện hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đối với người đàn ông chở Hàng A Dơ trên đường đi mua Heroine về, do D1 không biết rõ nhân thân, lý lịch và không nói cho người đàn ông biết việc D1 tàng trữ trái phép chất ma túy nên người đàn ông không liên quan đến hành vi phạm tội.
[7] Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên
4
căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hảng A D1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 01(Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 mảnh nilon màu trắng, bao bì niêm phong ban đầu, 01 chiếc lá cây. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
5 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Tuyết Thanh |
6
7
Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 02/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 05/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hảng A D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
