Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HOÁ

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 05/2024/HS-ST

Ngày: 29/10/2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Khắc Kiếm
  2. Ông Lê Văn Tú

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Minh Phương - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 29/ 10/ 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/ 2024/ HSST ngày 15/10/ 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/ QĐXXST- HS ngày 17/10/2024 đối với bị cáo:

Lê Thị V; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 02/09/1997; Nơi thường trú: Làng B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...]; Cấp ngày: 22 tháng 4 năm 2021; Nơi cấp: Cục Q về TTXH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Văn V1, Sinh năm: 1971; Con bà: Lang Thị N, Sinh năm: 1976; Tiền án, tiền sự: Không;

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cứ trú.

Bị hại : Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1987

Địa chỉ : S T, phường T, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

Người làm chứng :

  1. Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1998 ;

Địa chỉ : Phòng 1320 Chung cư 379, Phường Đông Hương, Thành phố Thanh Hóa

  1. Anh Lê Xuân C, sinh năm 1986;

Địa chỉ : S T, phường T, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

  1. Chị Lê Thị V2, sinh năm 1999 ;

Địa chỉ : P Chung cư C, Phường Đ, Thành phố T

  1. Anh Tào Quang A, sinh năm 2001;

Địa chỉ : S L, phường T, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

Tại phiên toà có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại và người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 0h20' ngày 10/7/2024 tại trước sảnh chính khu C, phường Đ, thành phố T, Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1987, trú tại 1 T, phường T, thành phố T đang đứng nói chuyện cùng Nguyễn Thị G, sinh năm 1995, trú tại P, Chung cư C, phường Đ, thành phố T. Cùng lúc này chồng của L là Lê Xuân C, sinh năm 1986, trú tại 1 T, phường T, thành phố T điều khiển xe máy chở phía sau là Lê Thị V đi đến trước sảnh chung cư. Cho rằng chồng ngoại tình với V, L nổi cơn ghen tiến lại và quát C “Mày đẹp mặt mày chưa” rồi lao vào dùng tay đánh V. C và G can ra thì L dùng tay tát, đánh C, C cũng dùng tay tát vào mặt L. Sau đó, L quay sang chửi V. Bức xúc vì bị chửi, V lao vào dùng tay đánh L, hai bên giằng co túm tóc nhau. C và G tiếp tục can ngăn thì em ruột của V là Lê Thị V2, sinh năm 1999 và Lương Thị Mai H, sinh năm 2000 cùng trú tại chung cư C, phường Đ, thành phố T đi đến. Thấy V đánh nhau với L, V2 lao vào dùng tay đánh, túm tóc L. Hai bên giằng co một lúc được G và C can ngăn thì hai bên dừng lại. Lúc này, L lấy điện thoại ra để quay và chửi V, V2, H. Bức xúc vì bị chửi, V2 lao vào dùng chân đạp vào bụng L, rồi dùng tay đánh L, V và H thì vào túm tóc L. Trong lúc giằng co, V giật chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax, ốp lưng màu hồng của L đang cầm trên tay và đập xuống đất. Lúc này, Tào Quang A, sinh năm 2001, trú tại 09/26, L, phường T, thành phố T (là bạn của L) đang đứng gần đó, cùng C và G vào can ngăn một lúc thì sự việc mới dừng lại.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 661/KLTTCT-PYTH ngày 05/8/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Thùy L tại thời điểm giám định là: 05% (năm phần trăm).

Tại Bản kết luận định giá tài sản sản số 66/KL-HĐĐGTS ngày 26/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban thành phố T kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh có ốp lưng màu hồng, đã qua sử dụng đã bị làm hư hỏng: Phần màn hình trước đã bị nứt vỡ phần kính, không lên hình, mặt kính sau của điện thoại bị vỡ và lõm. Trị giá tài sản thiệt hại là 3.650.000₫ (Ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

Quá trình xảy ra vụ việc, Lê Thị V và Nguyễn Thị T L khai nhận tự xông vào để xô xát với nhau nên bị rơi dây chuyền, không có ai giật hoặc có hành vi khác để chiếm đoạt. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với thiệt hại về tài sản nêu trên. Sau khi xảy ra vụ việc, đã tìm thấy dây chuyền do Lê Thị V đánh rơi. Thời điểm xảy ra vụ việc xảy ra vào ban đêm trước chung cư C, sự việc diễn ra nhanh chóng, các đối tượng xô xát bằng tay chân, sau khi được can ngăn đã dừng lại. Do đó, chưa đủ căn cứ xử lý hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

Đối với hành vi của Lê Thị V, Lê Thị V2, Lương Thị Mai H dùng tay chân đánh gây thương tích cho Nguyễn Thị Thùy L, gây tổn hại 05% sức khỏe, tuy nhiên chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên CQCSĐT đã Chuyển Công an thành phố Thanh Hoá ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ;

Đối với hành vi đánh nhau của hai vợ chồng là Lê Xuân C và Nguyễn Thị Thùy L, CQCSĐT – CATPTH đề nghị Chủ tịch UBND thành phố T Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L và C về hành vi “Đánh đập gây thương tích cho thành viên gia đình” theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Xử lý, thu giữ đồ vật tài liệu:

  • - 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng dài 44cm, gồm nhiều mắt xích trong đó một mắt xích bị đứt gãy;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xanh có ốp lưng là màu hồng, phần màn hình trước đã bị nứt vỡ phần kính, không lên hình, phần ốp lưng bằng nhựa có một vùng xước ở góc dưới bên trái, kính sau của điện thoại bị vỡ và lõm.
  • - 01 (một) ghế gấp bằng kim loại sơn xám, phần tựa lưng và đệm ngồi được bọc giả da màu xanh, kích thước khi gấp gọn: dài 88cm, rộng 48cm.

Toàn bộ số tài sản nêu trên, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố T đã tiến hành trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.

Về phần dân sự:

Chị Nguyễn Thị Thùy L yêu cầu bị cáo bồi thường theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 301/CT -VKSTPTH ngày 15/ 10/ 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố bị cáo Lê Thị V về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; Điểm b,i, s Khoản 1,2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự.

Mức hình phạt đại diện VKS đề nghị áp dụng đối với bị cáo: Từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ.

Do hiện nay bị cáo không có công việc làm, không có thu nhập, nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Về phần dân sự: Bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại giá trị thiệt hại về tài sản là 3.650.000₫ (Ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), Nhưng bị cáo đã tự nguyện nộp khoản tiền bồi thường tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa. Do đó bị hại có quyền nhận khoản tiền bồi thường do bị cáo tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và NQ 326/2016/UBTVQH14.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội:

Khoảng 0h20' ngày 10/7/2024 tại trước sảnh chính khu Chung cư C, phường Đ, Thành phố T. Do ghen tuông, cho rằng chồng mình là Lê Xuân C ngoại tình với Lê Thị V, nên Nguyễn Thị Thùy L đã dùng tay tát, đánh C, bị C tát lại. Bức xúc L chửi bới V, V cũng bức xúc dùng tay chân đánh L, cùng lúc đó em gái và bạn của V là Lê Thị V2 và Lương Thị Mai H đi đến cùng dùng tay chân đánh L. Quá trình xảy ra xô xát V có hành vi giật chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax, ốp lưng màu hồng của L đang cầm trên tay và đập xuống đất, làm tài sản bị hư hỏng và thiệt hại là 3.650.000₫.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Lê Thị V về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Trong vụ án này, chỉ do ghen tuông, chị L nghi ngờ chồng mình có ngoại tình với Lê Thị V, nên các bên đã lao vào xô xát với nhau. Quá trình xô xát thì Lê Thị V có giật chiếc điện thoại chị L đang cầm trên tay và ném đất. Kết quả định giá xác định trị giá phần tài sản bị thiệt hại là 3.650.000₫ (Ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, G1 ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật.

[4] Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không;

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; Tự nguyện bồi thường; Có bố ông ngoại là thương binh và ông bà ngoại tham gia kháng chiến, được tặng Huy chương kháng chiến, Huân chương kháng chiến. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm b, i, s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt:

Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Nhất thời thực hiện hành vi phạm tội; Có nhiều tình tiết giảm nhẹ; Có nơi cư trú rõ ràng. Do đó xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mà nên căn cứ Điều 36 của Bộ luật hình sự để áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ sức giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Do hiện nay bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có công việc làm, không có thu nhập. Do đó Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của bị hại về việc yêu cầu bị cáo phải bồi thường gía trị tài sản bị thiệt hại do bị cáo gây ra là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, nên chấp nhận buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại giá trị thiệt hại về tài sản là 3.650.000₫ (Ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), Nhưng bị cáo đã tự nguyện nộp khoản tiền bồi thường tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa. Do đó bị hại có quyền nhận khoản tiền bồi thường do bị cáo tự nguyện nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa.

[7] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Do bị cáo đã tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa. Do đó bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền này theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 178; Điểm b, i, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 ; Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.

Khoản 2 Điều 136; Điều 331 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Đ a,g Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố:

Bị cáo Lê Thị V phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt:

Lê Thị V 12 ( Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định Thi hành án và bản sao bản án.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo, trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Lê Thị V cho UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức hoặc ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thùy L giá trị tài sản bị thiệt hại theo kết quả định giá là 3.650.000₫ (Ba triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Nhưng do bị cáo Lê Thị V đã tự nguyện nộp số tiền phải bồi thường là 3.650.000đ tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa. Do đó bị hại được nhận số tiền bị cáo tự nguyện nộp bồi thường thiệt hại tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa theo biên lai thu tiền số 0845 ngày 29/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa.

Về án phí:

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm .

Bị cáo, bị hại có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại Điều 7a và Điểu 9 luật Thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu TAND TP. Thanh Hóa.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 05/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hủy hoại tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger