|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 05/2024/HS-ST Ngày: 29-10-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Xuân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Trung
Bà Phạm Thị Duyên
Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-HS ngày 18/10/2024 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Phan Thanh D, sinh năm: 1982, tại tỉnh Đồng Nai; CCCD số: [...]; Nơi cư trú: Ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lái xe ba gác Trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Con ông Phan Văn T, sinh năm: 1957 (đã chết) và bà Phạm Thị H, sinh năm: 1959 (đã chết ), có vợ là Phạm Thị N, sinh năm: 1984 (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm. 2009.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện T từ ngày 07/06/2024 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 07/06/2024, Công an xã G tiến hành kiểm tra căn nhà của Phan Thanh D, địa chỉ: 3, ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện tại phòng khách có 3 đối tượng gồm: Phan Thanh D, Nguyễn Văn T1 (Sinh năm: 1990; HKTT: ấp P, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai) và Điểu Thanh T2 (sinh năm: 1986; HKTT: ấp X, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai) có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy. Khi phát hiện lực lượng Công an, T1 bỏ chạy thoát. Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể đối với D, T2 thì cả hai đều dương tính với ma túy đá .
Qua trình điều tra các đối tượng khai nhận: Vào khoảng 18 giờ ngày 06/6/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên D dùng điện thoại di động hiệu SAMSUNG liên hệ qua Zalo để mua ma túy của đối tượng có tên “Tran Long” ở xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Sau khi có ma túy, D quay về nhà cắt túi nylon chứa ma túy đá đổ hết vào dụng cụ sử dụng đốt lên sử dụng một mình. Đến khoảng 01 giờ, ngày 07/06/2024, T1 liên lạc qua điện thoại cho T2 nói đến nhà D ở G 3 để sử dụng ma túy, T2 đồng ý. T1 điều khiển xe môtô biển số: 60S1-6050 đến nhà T2; Tại nhà T2, T1 dùng số thuê bao di động 0966535461 liên lạc với D qua số thuê bao di động 0965350439 xin đến nhà D chơi (T1 đã đến sử dụng ma túy cùng D nhiều lần), D đồng ý. Sau đó, T1 điều khiển xe môtô trên chở T2 đến nhà D. Đến nơi, T1 hỏi D còn ma túy không, D trả lời còn ít trong nỏ thủy tinh ở bộ D1 sử dụng ma túy nên T1 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy dưới nền nhà sau nghế gỗ để lên bàn nói T2 lấy sử dụng, T2 dùng quẹt gas có sẵn trên bàn đốt lên hút được 02 hơi thì hết ma túy nên D cất giấu bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào vị trí cũ. Đến 08 giờ 30 phút cùng ngày thì lực lượng Công an xã G 3 đến kiểm tra, phát hiện sự việc như đã nêu trên. Cơ quan điều tra Công an huyện T đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phan Thanh D và Nguyễn Văn T1 để điều tra, quá trình điều tra bị can D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, riêng Nguyễn Văn T1 bỏ trốn.
Tại Bản kết luận giám định số 1220/KL-KTHS ngày 14/06/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu tinh thể màu nâu chứa trong 01 (nỏ) thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, không xác định được khối lượng, loại: Methamphetamine
Vật chứng vụ án gồm:
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 phong bì niêm phong hoàn lại theo Kết luận giám định số 1220/KL-KTHS ngày 14/06/2024 của phòng PC09 Công an tỉnh Đ.
- 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime màu vàng, quá trình điều tra xác định D sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
- 01 xe môtô biển số 60S1-6050 quá trình điều tra, xác minh nguồn gốc xe thuộc quyền quản lý sử dụng của bà Nguyễn Thị M (mẹ ruột T1). Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn T1 được tách thành vụ án riêng để tiếp tục điều tra. Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ theo vụ án riêng để xác minh xử lý theo quy định
Tại cáo trạng số 123/CT-VKS-TN ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất đã truy tố Phan Thanh D về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt Bị cáo 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm và xử lý vật chứng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội do mình thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 01 giờ 45 phút, ngày 07/06/2024, tại ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Phan Thanh D đã có hành vi tổ chức cho Điểu Thanh T2 sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine thì bị Công an xã G phát hiện bắt giữ cùng vật chứng. Như vậy, hành vi của Phan Thanh D thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Xét tính chất của vụ án thấy rằng, tình hình tội phạm ma túy nói chung và trên địa bàn huyện T nói riêng có chiều hướng phức tạp với tính chất ngày càng nghiêm trọng, gây nhức nhối cho xã hội và trở thành nỗi lo của nhiều gia đình. Hậu quả do tệ nạn ma túy gây ra rất nghiêm trọng, làm tổn hại sức khỏe của một bộ phận nhân dân, đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, người nghiện ma túy ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Không
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bản thân bị cáo là người có học vấn thấp nên nhận thức pháp luật bị hạn chế là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Về quyết định hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo có thời gian suy nghĩ về hành vi phạm tội của mình, tự giác cải tạo, học tập, lao động trở thành công dân sống lương thiện, có ích cho xã hội và biết tuân thủ pháp luật.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền...”. Tuy nhiên, do bị cáo không có thu nhập và tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng vụ án:
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 phong bì niêm phong hoàn lại theo Kết luận giám định số 1220/KL-KTHS ngày 14/06/2024 của phòng PC09 Công an tỉnh Đ cần tiêu huỷ.
- 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime màu vàng, quá trình điều tra xác định D sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội cần sung công.
- 01 xe môtô biển số 60S1-6050 quá trình điều tra, xác minh nguồn gốc xe thuộc quyền quản lý sử dụng của bà Nguyễn Thị M (mẹ ruột T1). Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn T1 được tách thành vụ án riêng để tiếp tục điều tra. Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ theo vụ án riêng để xác minh xử lý theo quy định
[9] Về các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Văn T1 hiện đang bỏ trốn, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định tách vụ án hình sự về “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” để tiếp tục điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Điểu Thanh T2, quá trình điều tra T2 không biết cũng như không tham gia vào quá trình tổ chức sử dụng trái phép ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý hình sự mà đã ra quyết định số 166A/QĐ-XPHC ngày 26/06/2024 xử phạt vi phạm hành chính về “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
[10] Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về phần tội danh, điều khoản truy tố và hình phạt là có căn cứ, phù hợp với các tình tiết của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên chấp nhận.
[11] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 phong bì niêm phong hoàn lại theo Kết luận giám định số 1220/KL-KTHS ngày 14/06/2024 của phòng PC09 Công an tỉnh Đ cần tiêu huỷ.
- -Tịch thu sung công 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime màu vàng, D sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
- (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/10/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quyền kháng cáo:
Tuyên bố bị cáo Phan Thanh D phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phan Thanh D 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2024/2024.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Xuân |
Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TCSDTPMT
