|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN Bản án số: 05/2024/HSST Ngày 29/10/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Hứa Đình Hiên;
2/ Ông Nông Văn Vĩnh;
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Thêu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2024/TLST - HS ngày 09/10/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HS ngày 16/10/2024 đối với bị cáo:
Vũ Đức T (tên gọi khác: Không); sinh ngày 01 tháng 10 năm 1974 tại tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Văn T1 và bà: Nguyễn Thị N (đều đã chết); vợ: Hà Thị H; con: có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 18/02/2004 bị Công an thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Kạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý với hình thức phạt “Cảnh cáo” (Đã chấp hành xong, tính đến ngày 31/01/2024 được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính).
- Ngày 10/3/2004 bị UBND thị xã B (nay là thành phố B) ra Quyết định số 169/QĐ - UB về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm G - 06/CP với thời hạn 12 tháng. Ngày 20/3/2005 chấp hành xong, tính đến ngày 31/01/2024 được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính).
- Tại Bản án số 39/2007/HSST ngày 14/8/2007, Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Kạn xử phạt Vũ Đức T 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tính đến ngày 31/01/2024 Vũ Đức T đã được xóa án tích đối với bản án này).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B từ ngày 31/01/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Hà Thị H, sinh năm 1981; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
2/ Anh Triệu Duy H1; sinh năm 1987; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Tổ A, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
3/ Bà Vũ Thị T2; sinh năm 1971; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
4/ Bà Vũ Thị N1; sinh năm 1957; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Tổ C, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
5/ Bà Vũ Thị L; sinh năm 1962; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Tổ A, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau: Hồi 15 giờ 55 phút ngày 31/01/2024, tại khu vực đường N thuộc tổ E, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B bắt quả tang đối với Vũ Đức T, sinh năm 1974, trú tại tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi áo khoác màu xanh, bên trái Vũ Đức T đang mặc có 01 túi nilon màu trắng trong suốt, mở lớp này phát hiện 02 (hai) túi, trong đó có 01 (một) túi nilon màu trắng trong suốt bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột; 01(một) gói nilon màu đen bên trong chứa 05 (năm) viên nén màu đỏ hình trụ tròn đều nghi là chất ma túy (niêm phong trong phong bì ký hiệu T1). Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ 02 (hai) chiếc điện thoại di động, 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE mang biển kiểm soát 97B1- 823.55 cùng chìa khóa xe và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 051745 mang tên Triệu Duy H1.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B thi hành lệnh khám xét khẩn cấp đối với Vũ Đức T (tại địa chỉ nêu trên). Kết quả khám xét, phát hiện và thu giữ bên trong xô nhựa tại nhà kho cùng dãy nhà bếp của Vũ Đức T 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong tiếp tục có 01 (một) túi nilon trong suốt, bên trong có 01 (một) túi nilon loại túi zip trong suốt bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột nghi là chất ma túy (niêm phong trong phong bì ký hiệu K1); 01 lọ nhựa hình trụ tròn màu trắng, bên trong có 03 (ba) gói nilon, trong đó có 01 (một) gói được buộc bằng dây cao su màu vàng, bên trong chứa chất màu hồng dạng cục và bột, 02 (hai) gói nilon trong suốt còn lại đều chứa chất màu hồng đều nghi là chất ma túy (niêm phong trong phong bì ký hiệu K2). Tạm giữ số tiền 115.850.000đ (Một trăm mười năm triệu, tám trăm năm mươi nghìn đồng), 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Vũ Đức T.
Cùng ngày 31/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã tiến hành mở niêm phong, kiểm tra, cân xác định khối lượng chất bột nghi là ma túy, kết quả:
- Số chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu T1 có tổng khối lượng 37,737g (ba bảy phẩy bảy ba bảy gam), sau khi cân niêm phong vào trong phong bì ký hiệu C1 gửi giám định;
- 05 (năm) viên nén màu đỏ hình trụ tròn trong phong bì ký hiệu T1 có tổng khối lượng 0,461g (không phẩy bốn sáu một gam), sau khi cân niêm phong vào trong phong bì ký hiệu C2 gửi giám định;
- Số chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu K1 có tổng khối lượng là 36,693g (ba sáu phẩy sáu chín ba gam), sau khi cân niêm phong vào trong phong bì ký hiệu C3 gửi giám định;
- Số chất màu hồng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu K2 có tổng khối lượng 0,235g (không phẩy hai ba năm gam), sau khi cân niêm phong vào trong phong bì ký hiệu C4 gửi giám định.
- Tại Kết luận giám định số 71/KL - KTHS ngày 04/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
+ Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong 02 (hai) phong bì ký hiệu C1 và C3 gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
+ 05 (năm) viên nén hình trụ tròn màu đỏ và mẫu chất màu hồng dạng cục và bột trong 02 (hai) phong bì ký hiệu C2 và C4 gửi giám định đều là ma tuý, loại Methamphetamine, có tên khoa học là: (+)-(S)-N-a-dimethylphenethylamine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
+ Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu C1 có khối lượng là: 37,737g (ba bảy phẩy bảy ba bảy gam).
+ 05 (năm) viên nén màu đỏ trong phong bì ký hiệu C2 có tổng khối lượng là: 0,461g (không phẩy bốn sáu một gam).
+ Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu C3 có khối lượng là: 36,693g (ba sáu phẩy sáu chín ba gam).
+ Mẫu chất màu hồng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu C4 có khối lượng là: 0,235g (không phẩy hai ba năm gam).
- Tổng khối lượng mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong 02 (hai) phong bì ký hiệu C1, C3 có tổng khối lượng là 74,430g (bảy bốn phẩy bốn ba không gam)
- Tổng khối lượng 05 (năm) viên nén màu đỏ và mẫu chất màu hồng dạng cục và bột trong 02 (hai) phong bì ký hiệu C2, C4 có tổng khối lượng là 0,696g (không phẩy sáu chín sáu gam).
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Đức T khai nhận: Do có nhu cầu mua ma túy để sử dụng cho bản thân nên ngày 08/01/2024 Vũ Đức T gọi điện thoại cho người đàn ông tên H2 (không rõ tên đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể) mà Vũ Đức T lưu tên người đàn ông tên H2 trong danh bạ điện thoại của T là “Gỗ Cẩm” (số điện thoại 0376.197.xxx) rồi trao đổi đặt mua 02 (hai) cây ma tuý, loại Heroine và được người đàn ông tên H2 đồng ý, tiếp đó H2 bảo Vũ Đức T chuẩn bị số tiền khoảng 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng) khi nào H2 lên sẽ gọi cho T. Đến chiều ngày 14/01/2024 H2 gọi điện thoại đến số 0969.696.xxx cho T, sau khi được T chỉ dẫn địa chỉ nhà cho H2 thì H2 vào thẳng nhà T, tại đây H2 bán cho T 01 (một) gói ma tuý, loại Heroine rồi bảo T trả cho H2 56.000.000đ (năm mươi sáu triệu đồng), sau đó H2 cho thêm T 01 (gói) bên trong chứa chất bột màu hồng và 05 (năm) viên ma tuý, loại H3 phiến. Sau khi mua được ma túy, T đã chia số ma tuý, loại Heroine và số ma tuý tổng hợp, loại H3 phiến làm hai phần và cất giấu chung với nhau. Khi nào T muốn sử dụng ma tuý thì mới lấy ra sử dụng. Khoảng hơn 15 giờ ngày 31/01/2024, Vũ Đức T lấy ma túy ra chuẩn bị sử dụng thì bà Hà Thị H, sinh năm 1981 (là vợ của Vũ Đức T, trú cùng địa chỉ) bảo Vũ Đức T đi đón cháu đang học thêm ở đoạn đường gần Trung tâm y tế thành phố B nên Vũ Đức T đã đem theo 01 (một) túi ni lon màu trắng bên trong có 01 (một) gói ma tuý, loại Heroine và 01 (một) gói nilon màu đen chứa 05 viên ma tuý tổng hợp, loại Methamphetamine .Vũ Đức T cất số ma tuý này vào túi áo khoác màu xanh, bên trái đang mặc trên người rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA ARBLADE biển kiểm soát 97B1-823.55 đi từ nhà ở của T tại tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để đi đón cháu. Khi đi đến khu vực ngõ H thuộc tổ E, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn thì Vũ Đức T bị phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an tỉnh B bắt quả tang cùng vật chứng.
Trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Vũ Đức T đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản Cáo trạng số 70/CT-VKSTPBK, ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Vũ Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều luật có nội dung:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:
a, ...
b, Heroine, ..., Methamphetamine, ..., có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;
h, có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tại phiên tòa:
*Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vũ Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Đức T từ 11 đến 12 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 31/01/2024.
Hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền từ 10.000.000₫ đến 15.000.000đ để sung vào ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
-Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T54;01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu C5; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu xám đã qua sử dụng, điện thoại đã hỏng, không bật được nguồn điện; 02 (hai) xác Sim số VIETTEL, số thuê bao 1: 84975661305, số thuê bao 2: 84969696943.
- Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, số IMEI1: 358452980173810 và số IMEI2: 359488420173811.
- Trả lại cho bị cáo T: 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Vũ Đức T.
- Trả lại cho bà Hà Thị Hằng S tiền 115.850.000đ (Một trăm mười năm triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
- Tạm giữ số tiền 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) do bà Hà Thị H nộp thay cho bị cáo T theo biên lai thu tiền số 000636 và 000638, ngày 28/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
* Bị cáo Vũ Đức T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, bị cáo chỉ xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội. Đối với số tiền 115.850.000đ (Một trăm mười năm triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ khi khám xét nhà riêng của bị cáo là tiền phúng viếng sau khi mẹ bị cáo chết vào năm 2021, các anh chị em trong gia đình đã thống nhất giao lại cho vợ chồng bị cáo quản lý để chi vào các công việc chung của gia đình như làm giỗ, thờ cúng bố mẹ.... Do vậy bị cáo xin HĐXX xem xét trả lại cho vợ của bị cáo là bà Hà Thị H để bà H quản lý chi vào việc làm giỗ, thờ cúng bố mẹ sau này.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Hà Thị H, bà Vũ Thị T2, bà Vũ Thị N1, và bà Vũ Thị L đều có lời khai thống nhất xác định số tiền 115.850.000đ (Một trăm mười năm triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ khi khám xét nhà riêng của Vũ Đức T là tiền phúng viếng sau khi mẹ của họ là bà Nguyễn Thị N chết vào năm 2021, các chị em trong gia đình đã thống nhất giao lại cho vợ chồng Vũ Đức T quản lý để chi vào các công việc chung của gia đình như làm giỗ, thờ cúng bố mẹ...Nay họ đều có ý kiến đề nghị HĐXX xem xét trả lại số tiền trên cho vợ của bị cáo là bà Hà Thị H để bà H quản lý chi vào việc làm giỗ, thờ cúng bố mẹ sau này.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Triệu Duy H1 có ý kiến: Anh có cho cậu ruột là Vũ Đức T mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA ARBLADE biển kiểm soát 97B1-823.55 để làm phương tiện đi lại hàng ngày. Việc bị cáo T sử dụng chiếc xe mô tô trên vào việc tàng trữ trái phép chất ma túy thì anh hoàn toàn không biết. Hiện nay anh đã được Cơ quan CSĐT Công an thành phố B trả lại chiếc xe này do vậy anh không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố B và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Vũ Đức T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 15 giờ 55 phút ngày 31/01/2024, tại khu vực đường N thuộc tổ E, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Cơ quan điều tra phát hiện, bắt quả tang Vũ Đức T có hành vi tàng trữ trái phép 37,737g (Ba bảy phẩy bảy ba bảy gam) ma túy loại Heroine và M. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nhà riêng của Vũ Đức T tại tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn. Qua khám xét thu giữ của Vũ Đức T 37,389g (Ba bảy phẩy ba tám chín gam) ma túy loại Heroine và M. Tổng khối lượng ma túy thu giữ của Vũ Đức T là 75,126g (Bảy năm phẩy một hai sáu gam) ma túy loại Heroine và M. Bị cáo khai mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích nào khác.
Vũ Đức T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật tuy nhiên do nghiện chất ma túy nên đã cố ý tàng trữ trái phép 75,126g (Bảy năm phẩy một hai sáu gam) ma túy, loại Heroine và Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương nên cần xử lý theo pháp luật hình sự.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo Vũ Đức T có nhân thân xấu: Năm 2004 bị Công an thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Kạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý với hình thức phạt “Cảnh cáo”; Năm 2004 bị UBND thị xã B (nay là thành phố B) ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm G - 06/CP với thời hạn 12 tháng; Năm 2007 bị Tòa án nhân dân thị xã Bắc Kạn (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Kạn xử phạt 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ là ông Vũ Văn T1 đã tham gia lực lượng thanh niên xung phong và được tặng Kỷ niệm chương Thanh niên xung phong; trước khi mở phiên tòa, bị cáo đã tác động gia đình nộp thay số tiền 10.200.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn để đảm bảo việc thi hành án khoản tiền phạt và án phí, qua đó thể hiện bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải và có ý thức chấp hành pháp luật, do vậy cần xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo trong một khoảng thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T54, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý của Vũ Đức T (1974)”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, chứa chất ma túy thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu C5, mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (một) dòng chữ “Vũ Đức T”, 01 (một) dòng chữ “Trần Văn Đ” và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B, bên trong chứa phong bì, túi nilon cũ, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, điện thoại có số IMEI1: 358452980173810 và số IMEI2: 359488420173811, là chiếc điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy, cần tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 02 (hai) xác Sim VIETTEL, số thuê bao 1: 84975661305, số thuê bao 2: 84969696943, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu xám đã qua sử dụng, điện thoại đã hỏng, không bật được nguồn điện, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Vũ Đức T là giấy tờ hợp pháp của bị cáo T, cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với số tiền 115.850.000đ (Một trăm mười năm triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ khi khám xét nhà riêng của Vũ Đức T, là tiền phúng viếng sau khi mẹ của bị cáo chết vào năm 2021, các chị em trong gia đình đã thống nhất giao cho vợ chồng bị cáo T quản lý để chi vào các công việc chung của gia đình như làm giỗ, thờ cúng bố mẹ... do vậy cần trả lại cho vợ của bị cáo là bà Hà Thị H là phù hợp.
- Đối với số tiền 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) do bà Hà Thị H nộp thay cho bị cáo T theo Biên lai thu tiền số 000636 và 000638, ngày 28/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn, cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE biển kiểm soát 97B1 – 823.55, quá trình điều tra xác định xe mô tô thuộc quyền sở hữu của anh Triệu Duy H1, sinh năm 1987, trú tại tổ A, phường P, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn (là cháu ruột của bị cáo Vũ Đức T). Khoảng tháng 10 năm 2022 anhTriệu Duy H4 đi xuất khẩu lao động tại nước Cộng hòa A có để chiếc xe mô tô ở nhà, Vũ Đức T có hỏi Triệu Duy H1 cho mượn chiếc xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại và được anh H1 đồng ý. Đến đầu năm 2024 anh H1 về địa phương, tuy nhiên do chưa có nhu cầu sử dụng chiếc xe mô tô nên anh H1 vẫn cho Vũ Đức T mượn xe mô tô trên để đi lại, nhưng anh H1 không biết Vũ Đức T sử dụng xe vào việc tàng trữ trái phép chất ma túy, nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trả lại xe mô tô trên cho anh Triệu Duy H1 là đúng quy định.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Đối với người đàn ông tên H2 đã bán ma túy cho Vũ Đức T vào ngày 14/01/2024, do T không biết rõ họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra, xử lý trong vụ án này. Mặt khác Vũ Đức T khai nhận người đàn ông tên H2 có sử dụng số điện thoại 0376.197.xxx và T lưu trong danh bạ điện thoại là “Gỗ Cẩm”. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã ra lệnh thu giữ thư tín, điện tín để xác định thông tin liên quan đến số điện thoại 0376.197.xxx cũng như các số điện thoại có liên quan, tuy nhiên đến nay chưa nhận được kết quả trả lời nên Cơ quan điều tra chưa đủ cơ sở điều tra, xác minh xử lý.
Đối với Triệu Duy H1 là người đã cho Vũ Đức T mượn xe mô tô biển kiểm soát 97B1 – 823.55. Ngày 31/01/2024, Vũ Đức T điều khiển xe mô tô trên và có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng Triệu Duy H1 không biết, do đó Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Triệu Duy H1 là phù hợp.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo:
Áp dụng điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
-Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Vũ Đức T 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 31/01/2024.
- Hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung đối với bị cáo T số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T54, mặt trước phong bì có dòng chữ: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý của Vũ Đức T (1974)”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
+ 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu C5, mặt sau phong bì có 06 (sáu) chữ ký không đọc được, 01 (một) dòng chữ “Vũ Đức T”, 01 (một) dòng chữ “Trần Văn Đ” và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu xám đã qua sử dụng, điện thoại đã hỏng, không bật được nguồn điện.
+ 02 (hai) xác sim số VIETTEL, số thuê bao 1: 84975661305, số thuê bao 2: 84969696943.
- Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu xanh, điện thoại cũ, đã qua sử dụng, số IMEI1: 358452980173810 và số IMEI2: 359488420173811.
- Trả lại cho bị cáo T: 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Vũ Đức T.
- Trả lại cho bà Hà Thị Hằng S tiền 115.850.000đ (Một trăm mười năm triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
- Tạm giữ số tiền 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) do bà Hà Thị H nộp thay cho bị cáo T theo Biên lai thu tiền số 000636 và 000638, ngày 28/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an thành phố B và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vũ Đức T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15(Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyệt Thu |
Bản án số 05/2024/HSST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Đức Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự
