|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2024/HS-ST Ngày: 25/10/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Trung Kiên.
Bà Lò Thị Ánh Ngọc.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nông Quốc Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với Bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Văn Q, sinh năm: 1992, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Số nhà A, tổ A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Minh C, đã chết; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1960. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/7/2024, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 22/7/2024, Q đi bộ một mình từ nhà tại: Số nhà A, Tổ dân phố C, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên mục đích để đi tìm mua Hồng phiến về sử dụng. Khi đi Bị cáo mang theo 500.000 đồng .Đến khu vực đường B, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Kinh khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ ở đâu). Bị cáo hỏi người đàn ông đó: "Có H1 phiến bán không?". Người đàn ông đó trả lời: “có, Anh lấy bao nhiêu thì đưa tiền đây".
Nghe vậy Bị cáo lấy 500.000 đồng từ người ra đưa cho người đàn ông đó, người đàn ông cầm tiền rồi đưa lại cho Bị cáo 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có nẹp bấm cố định. Bị cáo cầm lấy kiểm tra thấy bên trong có các viên Hồng phiến màu hồng, cụ thể bao nhiêu viên Hồng phiến thì Bị cáo không đếm, xem xong rồi đồng ý mua. Mua bán xong Bị cáo cầm túi Hồng phiến vừa mua được trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ quay về nhà, đang trên đường đi bộ về thuộc bản L, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an huyện Đ và Công an xã T, huyện Đ, kiểm tra phát hiện, thu giữ tại trong lòng bàn tay phải của Bị cáo đang cầm có 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có nẹp bấm cố định, bên trong có các viên Hồng phiến màu hồng. Tổ công tác đã mời người chứng kiến đến chứng kiến vụ việc và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong thu giữ toàn bộ vật chứng theo đúng quy định. Sau khi hoàn tất thủ tục tổ công tác đã áp giải Bị cáo cùng toàn bộ hồ sơ, vật chứng vụ án đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để điều tra làm rõ.
Ngày 22/7/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Trần Văn Q như sau: Số các viên nén màu hồng nghi Methamphetamine có khối lượng là: 2,72 gam gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 1263/KL- KTHS ngày 29/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu các viên nén màu hồng được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Trần Văn Q giám định là chất ma túy: loại Methamphetamine. Vật chứng hoàn lại sau giám định là 2,4 gam.
Tại bản cáo trạng số: 197/CT-VKSHĐB ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy: 2,4 gam Methamphetamine là vật chứng hoàn lại sau giám định. 01 túi nilon màu trắng là vật không có giá trị sử dụng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Q khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 15 giờ 50 phút ngày 22/7/2024 tại khu vực bản L, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Trần Văn Q đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 2,72 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
...
c).... Methamphetamine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.
[2] Về tính chất của vụ án:
Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát
sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo sinh ra tại xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Năm 1998 cùng gia đình lên sinh sống tại thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, được gia đình cho đi học hết lớp 8/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2017.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS, ngoài hình phạt chính “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xong xét Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không có khả năng thi hành. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án gồm:
2,4 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, 01 túi nilon màu trắng là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Các vấn đề khác:
Trong quá trình điều tra Bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Kinh khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ ở đâu). Do Bị cáo không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không có đủ cơ sở, tài liệu làm căn cứ để điều tra xác minh làm rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý trong vụ án này.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[8] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Q phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt Bị cáo: 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (22/7/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng: điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
- * Tịch thu tiêu hủy: 2,4 gam Methamphetamine vật chứng còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, 01 túi nilon màu trắng là vật không có giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/10/2024).
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |
Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 03 năm tù
