|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————————————— |
|
Bản án số: 05/2024/HSST Ngày 22-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Tuấn.
Ông Cà Văn Đại.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Tòng Văn C, sinh ngày 17/7/1998, tại C, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Pòn, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tòng Văn Q, sinh năm 1977, con bà Hà Thị L, sinh năm 1974; sống chung như vợ chồng với Hà Thị N (đã chết), có 01 con lớn sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/5/2024; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lường Duy T – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp viên pháp lý nhà nước, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người bị hại:
Hà Thị N, sinh năm 2004. Địa chỉ: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
Ông Hà Văn N1, sinh 1984, Bà Cà Thị D, sinh 1987 là bố mẹ đẻ, địa chỉ: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người được thừa kế của Hà Thị N gồm:
Ông Hà Văn N1, sinh 1984, bà Cà Thị D, sinh 1987 là bố, mẹ đẻ và Tòng Gia T1, sinh năm 2021 con của Hà Thị N và Tòng Văn C.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Tòng Văn M, sinh năm 1995, địa chỉ: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Tòng Văn C bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 16/3/2024 Tòng Văn C, sinh ngày 17/7/1998, trú tại: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, điều khiển xe ôtô BKS 14M-7462 (có giấy phép lái xe). Xe thuộc chủ sở hữu của anh Tòng Văn M, sinh năm 1995, địa chỉ: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Trên xe chở trứng đi bán, trên ca bin bên ghế phụ có Hà Thị N, sinh năm 2004. Địa chỉ: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La là vợ đã cưới, chưa đăng ký kết hôn. Khi đi đến đoạn đường liên bản Két – bản P, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La. Đi đến đoạn đường dốc, cua, loại đường đất, đất đá gồ ghề. Để lên dốc Tòng Văn C điều khiển chuyển cần số từ cơ số 2 về số 1, nhưng mới sang số mo thì xe trượt lùi, Tòng Văn C kéo phanh tay, xe vẫn trượt lật xuống tà luy âm, sau đó vướng cây mắc lại. Tòng Văn C và Hà Thị N bị văng ra khỏi xe đều bị thương nặng. Được đưa đi cấp cứu. Hậu quả làm Hà Thị Nguyên tử V.
Biên bản khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là thuộc địa phận đường liên bản Két – bản P, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La. Đường dốc, cua, loại đường đất, đất đá gồ ghề, mặt đường rộng 4,3m, độ dốc 10%, khuất tầm nhìn, không có lề đường, một bên là tà luy âm sâu; Trên hiện trường để lại nhiều vết cày đất, vết trượt lốp, nhiều khay trứng vỡ và một xe ôtô BKS 14M-7462 bị hỏng nặng.
Khám nghiệm phương tiện là chiếc xe ôtô nhãn hiệu FOTON BKS 14M-7462, loại xe tải mui phủ, màu sơn xanh, được xác định xe hư hỏng nặng.
Kết quả giám định tình trạng kỹ thuật xe: Xe trong hạn kiểm định; Các hệ thống: Tổng thành, hệ thống lái, hệ thống phanh đều không kiểm tra được do hỏng nặng, nguyên nhân do tai nạn.
Kết quả định giá chiếc xe ôtô nhãn hiệu FOTON BKS 14M-7462 còn giá trị 5.070.000, đồng;
Khám nghiệm tử thi Hà Thị N: Cơ thể có nhiều vết xây xước da, bầm tím nhiều vùng; 1/3 giữa đùi trái gập góc; vùng gáy bầm tím, tụ máu; tổ chức cân quan khớp bầm tụ máu; ống tủy dưới khớp liên đốt tụ máu.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 752/KLGĐTT-PC09 ngày 26/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận: Nguyên nhân chết của Hà Thị N: “Sốc đa chấn thương không phục hồi do chấn thương tủy cổ, chấn thương ngực kín, gãy kín 1/3 xương đùi trái là nguyên nhân gây tử vong”.
Xác định nguyên nhân gây chết người do Tòng Văn C khi điều khiển xe ôtô, do quá tự tin, điều khiển xe chuyển số nhưng không chuyển được khi lên dốc cao, gồ ghề dẫn đến làm xe bị lùi lật xuống vực sâu, hậu quả vô ý làm chết một người.
Bản cáo trạng số: 118/CT-VKSML ngày 18 tháng 9 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Tòng Văn C phạm tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành huyện Mường La tham gia phiên toà sau khi trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Tòng Văn C phạm tội “Vô ý làm chết người”.
Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Tòng Văn C từ 12 đến 16 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; Đề nghị Hội đồng xét xử ấn định thời gian thử thách cho bị cáo.
Vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 591 của Bộ luật Dân sự.
Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Tòng Văn M chiếc xe ôtô BKS 14M-7462 và anh Tòng Văn M không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Chấp nhận gia đình bị hại ông Hà Văn N1, bà Cà Thị D và bị cáo Tòng Văn C thỏa thuận mức bồi thường là 69.000.000, đồng. Đã nhận đủ 69.000.000, đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tòng Văn M có đề nghị xử vắng mặt. Sự vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt vẫn đảm bảo quyền lợi của họ.
[3]. Tại phiên toà bị cáo Tòng Văn C thừa nhận: Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 16/3/2024 Tòng Văn C, sinh ngày 17/7/1998, trú tại: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, điều khiển xe ôtô BKS 14M-7462 (có giấy phép lái xe). Khi đi đến đoạn đường liên bản Két – bản P, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La. Đi đến đoạn đường dốc, cua, loại đường đất, đất đá gồ ghề. Để lên dốc Tòng Văn C điều khiển chuyển cần số từ cơ số 2 về số 1, nhưng mới sang số mo thì xe trượt lùi, Tòng Văn C kéo phanh tay, xe vẫn trượt lật xuống tà luy âm, hậu quả vô ý làm chết Hà Thị N ngồi ghế phụ.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ được thu thập như sau: Phù hợp với nội dung bản cáo trạng; lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; Biên bản kết luận giám định pháp y về tử thi; Sơ đồ, biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan, lời khai của những người làm chứng.
Xác định nguyên nhân gây chết người do Tòng Văn C khi điều khiển xe ôtô, do quá tự tin, điều khiển xe chuyển số nhưng không chuyển được khi lên dốc cao, gồ ghề dẫn đến làm xe bị lùi lật xuống vực sâu, hậu quả vô ý làm chết một người.
Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận Tòng Văn C điều khiển (xe ôtô) do quá tự tin, điều khiển xe chuyển số nhưng không chuyển được khi lên dốc cao, gồ ghề dẫn đến làm xe bị lùi lật xuống vực sâu, dẫn đến hậu quả vô ý làm chết một người. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Vô ý làm chết người”, theo quy định tại khoản 1 Điều 128 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, thực hiện do lỗi vô ý, trực tiếp xâm phạm an toàn về tính mạng và tài sản của công dân.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b “tích cực bồi thường khắc phục hậu quả”, điểm s “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, gia đình bị cáo và chính quyền địa phương có đơn bảo lãnh, đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo, bản thân người bị hại là vợ đã cưới nhưng chưa đăng ký của bị cáo, hiện bị cáo đang nuôi con nhỏ của bị cáo và bị hại là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện các nghĩa vụ công dân, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ các căn cứ trên xét thấy bị cáo có đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định của khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
[4]. Vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 591 của Bộ luật Dân sự.
Chấp nhận gia đình ông Hà Văn N1, bà Cà Thị D là bố mẹ đẻ của người bị hại và gia đình bị cáo Tòng Văn C thỏa thuận mức bồi thường là 69.000.000, đồng. Đã nhận đủ 69.000.000, đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Tòng Văn M chiếc xe ôtô BKS 14M-7462 và anh Tòng Văn M không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Do các bị cáo không thuộc hộ nghèo và không có đơn và tài liệu miễn án phí, đồng thời bị cáo có nguyện vọng được nộp án phí, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Tòng Văn C phạm tội “Vô ý làm chết người”.
Xử phạt bị cáo Tòng Văn C 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án ngày 22/10/2024.
Giao bị cáo Tòng Văn C cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình Tòng Văn C có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Tòng Văn C.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự năm 2019, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 591 của Bộ luật Dân sự.
Chấp nhận gia đình ông Hà Văn N1, bà Cà Thị D là bố mẹ đẻ của người bị hại và gia đình bị cáo Tòng Văn C thỏa thuận mức bồi thường là 69.000.000, đồng (sáu mươi chín triệu đồng). Đã nhận đủ 69.000.000, đồng (sáu mươi chín triệu đồng) và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Tòng Văn M chiếc xe ôtô BKS 14M-7462 và anh Tòng Văn M không yêu cầu bồi thường gì thêm.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Tòng Văn C phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 22/10/2024. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tòng Văn M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) (đã ký) Nguyễn Minh Tuấn |
Bản án số 05/2024/HSST ngày 22/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về vụ án hình sự
- Số bản án: 05/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án Tòng Văn Cường - Vô ý làm chết người
