Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÔN ĐẢO

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17-10-2024

V/v: Không công nhận vợ chồng

giữa bà Liên và ông Đươl

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Lan

Ông Đỗ Phi Phúc

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 18/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 về việc “Yêu cầu không công nhận vợ chồng, tranh chấp về nuôi con của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lý Thị L, sinh năm: 1980 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

HKTT: Ấp L, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

Nơi cư trú: Tổ G, khu dân cư số G, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Bị đơn: Ông Danh Đ, sinh năm: 1976 (Vắng mặt)

HKTT: Ấp L, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

Nơi cư trú: Tổ G, khu dân cư số G, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện ngày 30 tháng 7 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lý Thị L trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Lý Thị L và ông Danh Đ tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng vào tháng 3 năm 2005, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên gây gỗ với nhau, gia đình không còn hạnh phúc, do vậy vợ chồng sống ly thân từ tháng 5 năm 2020 đến nay. Nay, bà L nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn được và tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án tuyên bố quan hệ giữa bà L và ông Đ không phải là quan hệ vợ chồng.

- Về con chung: Bà L và ông Đ có 02 người con chung là Danh Thị T, sinh ngày 20/12/2005 và Danh Thị Ngọc U, sinh ngày 13/12/2010. Hiện cháu T đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết. Riêng cháu U chưa thành niên đang ở với bà Liên từ khi vợ chồng ly thân đến nay. Nay, bà L yêu cầu được nuôi dưỡng con chưa thành niên, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.

2. Bị đơn ông Danh Đ đã được Tòa án tổng đạt các thủ tục tố tụng đúng quy định pháp luật nhưng anh T1 không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

3. Tại biên bản lấy lời khai, cháu Danh Thị Ngọc U trình bày: Hiện cháu đang sống cùng với bà L, nay cha mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với bà L.

4. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật. Riêng bị đơn ông Đ, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định. Bà L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Đ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng, do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L và ông Đ là phù hợp quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến trình bày của đương sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Bà Lý Thị L yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà L và ông Đ. Bị đơn cư trú trên địa bàn huyện C nên Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Nguyên đơn bà L vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Đ đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên toà nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Bà Lý Thị L và ông Danh Đ chung sống với nhau từ năm 2005, có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, dù bà L và ông Đ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng, không được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà L và ông Đ.

[2.2] Về nuôi con chung: Bà L và ông Đ có 02 người con chung Danh Thị T, sinh ngày 20/12/2005 và Danh Thị Ngọc U, sinh ngày 13/12/2010. Cháu T đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết. Đối với con chưa thành niên, quá trình giải quyết vụ án bà L yêu cầu được nuôi dưỡng con. Xét nguyện vọng của bà L, Hội đồng xét xử thấy rằng, bà L có điều kiện kinh tế để đảm bảo việc nuôi con hơn ông Đ, đồng thời cháu U đã ở với bà Liên T2 khi vợ chồng ly thân đến nay và cháu có nguyện vọng muốn ở với bà L. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu U, theo quy định Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cháu U cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời bà L không yêu cầu nên không xét đến.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

[3] Về án phí: Bà L phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q; Ông Đ không phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 14, 15, 53, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

  1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lý Thị L và ông Danh Đ.

  2. Về nuôi con chung: Giao con chung chưa thành niên là cháu Danh Thị Ngọc U, sinh ngày 13/12/2010 cho bà Lý Thị L trực tiếp nuôi dưỡng.

    Tạm thời bà L không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, bà L và ông Đ đều có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Vì quyền lợi của con chung, cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con hoặc yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định không có nên không yêu cầu giải quyết.

  4. Về án phí:

    • - Bà Lý Thị L phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0012132 ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà L đã nộp đủ tiền án phí.

    • - Ông Danh Đ không phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Côn Đảo;
  • - Chi Cục THADS huyện Côn Đảo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 17/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 05/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger