Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH XUYÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:05/2024/KDTM-ST

Ngày 30 tháng 9 năm 2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Nữ Hương Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Thái và bà Lê Thị Bích Thuần.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng- Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Hảo - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2024/TLST-KDTM ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:71/2024/QĐXXST- KDTM ngày 06 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST- KDTM ngày 23/9/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N địa chỉ: Số B phố L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V; Chức danh: Tổng Giám đốc; đại diện theo ủy quyền: Ông Đào Nam D- Phó Giám đốc phụ trách điều hành Ngân hàng N chi nhánh huyện B, Vĩnh Phúc II; người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Thanh C- Giám đốc Ngân hàng N- chi nhánh huyện B, V- Phòng G (Văn bản ủy quyền số 104/GUQ ngày 27/02/2024), có mặt.

Bị đơn:

  • - Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn V, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
  • Người đại diện theo ủy quyền của anh T: Chị Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1998; địa chỉ: thôn V, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (văn bản ủy quyền ngày 27/5/2024), vắng mặt.
  • - Chị Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn V, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/02/2024 và quá trình tố tụng, người được ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh C trình bày:

Ngày 22/7/2021, Ngân hàng N (gọi tắt là Ngân hàng) và anh Đỗ Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc Á (anh T nhận ủy quyền của chị Á) ký hợp đồng tín dụng số 2801- LAV- 202101644, theo đó Ngân hàng cho anh T vay số tiền là 700.000.000đ (bảy trăm triệu đồng đồng). Thời hạn vay 60 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng, lãi suất 9%/năm. Mục đích vay bù đắp chi phí mua xe ô tô để vận chuyển hành khách.

Ngày 26/5/2022 Ngân hàng và anh Đỗ Văn T ký hợp đồng tín dụng số 2801LAV202201134, theo đó Ngân hàng cho anh T, chị Á vay số tiền 1.300.000.000đ, thời hạn duy trì hạn mức 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng. Lãi suất theo từng báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ. Mục đích vay kinh doanh sữa, bỉm các loại.

Ngày 28/7/2023 Ngân hàng và anh Đỗ Văn T ký hợp đồng tín dụng số 2801LAV20231142 cho anh Đỗ Văn T vay số tiền 100.000.000 đồng. Thời hạn duy trì hạn mức 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng, lãi suất 10%/năm. Mục đích vay hạn mức thấu chi.

Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 1368, tờ bản đồ 23, diện tích đất 169,8m². Vị trí đất tại thôn V, xã T, thành phố V. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 481460 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 25/3/2021 cho anh Đỗ Văn T.

Hợp đồng thế chấp số 2801- 291918503/HĐTC được ký ngày 20/7/2021 có chữ ký của anh T và chị Nguyễn Thị Ngọc Á (là vợ của anh T). Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C1 số công chứng 1883/2021/HĐTC, được đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 20/7/2021.

Quá trình thực hiện hợp đồng, anh T đã trả được cho Ngân hàng số tiền là 456.870.978 đồng (trong đó tiền gốc là 250.252.892 đồng; tiền lãi là 206.618.086 đồng).

Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Đỗ Văn T, chị Nguyễn Thị Ngọc Á phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 30/9/2024 là 2.159.126.322 đồng (trong đó số tiền gốc là 1.849.747.108 đồng, số tiền lãi trong hạn là 221.049.864 đồng; lãi quá hạn là 73.026.027 đồng; lãi thấu chi 15.303.323 đồng) và tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.

Trường hợp anh Đỗ Văn T, chị Nguyễn Thị Ngọc Á không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền nợ nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Nếu bán tài sản thế chấp không trả đủ thì phải tiếp tục trả số nợ còn lại.

* Bị đơn anh Đỗ Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc Á vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bản tự khai trình bày:

Anh T, chị Á xác nhận ngày ký hợp đồng vay, số tiền vay, số tiền đã trả, mục đích, hình thức vay và lãi suất thỏa thuận; phương thức, kỳ hạn trả nợ và số tiền còn nợ như người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã trình bày.

Anh T, chị Á có vay của Ngân hàng số tiền là 2.100.000.000 đồng, mục đích vay bù đắp mua xe ô tô để vận chuyển hành khách; kinh doanh bỉm, sữa các loại, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất vay tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng: 9%/năm (đối với hợp đồng tín dụng số 2801LAV202101644 ngày 22/7/2021); thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 10%/năm đối với hợp đồng tín dụng số 2801LAV20221134. Tài sản đảm bảo theo hợp đồng thế chấp, phụ lục hợp đồng thế chấp như nguyên đơn trình bày là đúng. Trong quá trình vay anh T, chị Á mới thanh toán trả nợ cho Ngân hàng là 206.618.086 đồng. Nay anh T, chị Á xác nhận còn nợ số tiền gốc là 1.849.747.108 đồng cùng khoản tiền lãi như tính toán của Ngân hàng. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên anh T, chị Á đề nghị Ngân hàng miễn cho toàn bộ tiền lãi, đối với số tiền gốc được trả làm nhiều lần. Trường hợp nếu anh T không thực hiện được việc trả nợ thì anh T, chị Á đồng ý để Ngân hàng được xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như đã khởi kiện. Ngân hàng không đồng ý miễn tiền lãi cho anh T, chị Á và đề nghị Tòa án buộc anh Đỗ Văn T, chị Nguyễn Thị Ngọc Á có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 30/9/2024 là 2.159.126.322 đồng, trong đó số tiền nợ gốc: 1.849.747.108 đồng, số tiền lãi trong hạn là 221.049.864 đồng, nợ lãi quá hạn là 73.026.027 đồng, lãi thấu chi 15.303.323 và phải trả nợ lãi phát sinh tính từ ngày 31/9/2024 đến khi thanh toán hết nợ. Thời gian trả nợ vào ngày 30/12/2024.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên phát biểu quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng mọi trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đối với nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ theo giấy triệu tập của Tòa án.

Bị đơn không chấp hành đầy đủ theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 317, 318, 323, 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 94, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí buộc bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Bị đơn là anh Đỗ Văn T ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Ngọc Á, chị Á tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Tòa án đã làm đầy đủ các thủ tục đối với trường hợp vắng mặt của chị Á. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử.

Đối với ông Đỗ Văn S và bà Lê Thị L (là bố mẹ đẻ anh Đỗ Văn T) đang ở trên nhà đất mà anh T, chị Á thế chấp cho Ngân hàng để vay tiền nhưng phía ông S, bà L đều thừa nhận toàn bộ tài sản thế chấp là của anh T, chị Á nên Hội đồng xét xử không đưa ông S, bà L tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

[2] Về quan hệ pháp luật: Hai bên ký kết hợp đồng tín dụng phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận nên đây là tranh chấp về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và sử lý tài sản thế chấp” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về áp dụng pháp luật: Giao dịch vay tài sản giữa các bên phát sinh trong lĩnh vực hoạt động tín dụng, thời điểm ký kết hợp đồng là tháng 7/2021 nên pháp luật được áp dụng giải quyết trong vụ án là Bộ luật dân sự năm 2015; Luật các tổ chức tính dụng năm 2010.

[4] Về nội dung vụ án:

  • Ngày 22/7/2021 giữa Ngân hàng N và anh Đỗ Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc Á (anh T đồng thời nhận ủy quyền của chị Á) ký kết Hợp đồng tín dụng số: 2801LAV202101644. Theo đó, Ngân hàng đã cho ông Đỗ Văn T vay vốn, cụ thể: Số tiền vay là 700.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy trăm triệu đồng); Thời hạn vay vốn: 60 tháng (Kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng); Lãi suất: 9%/năm; Mục đích vay: Bù đắp chi phí mua xe ô tô để vận chuyển hành khách.
  • Ngày 26 tháng 5 năm 2022, Ngân hàng N (NN&PTNT) Việt Nam và ông Đỗ Văn T (ông T đồng thời nhận ủy quyền của bà Nguyễn Thị Ngọc Á (vợ ông T) đã ký kết Hợp đồng tín dụng số: 2801LAV202201134. Theo đó, Ngân hàng đã cho ông Đỗ Văn T vay vốn, cụ thể: Số tiền vay là 1.300.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ ba trăm triệu đồng); Thời hạn duy trì hạn mức: 12 tháng (Kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng); Lãi suất: Theo từng báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ; Mục đích vay: Kinh doanh sữa, bỉm các loại.
  • Ngày 28 tháng 7 năm 2023, Ngân hàng N (NN&PTNT) Việt Nam và ông Đỗ Văn T (ông T đồng thời nhận ủy quyền của bà Nguyễn Thị Ngọc Á (vợ ông T) đã ký kết Hợp đồng tín dụng số: 2801LAV202301142. Theo đó, Ngân hàng đã cho ông Đỗ Văn T vay vốn, cụ thể: Số tiền vay là 100.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng); Thời hạn duy trì hạn mức: 12 tháng (Kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng); Lãi suất: 10%/năm; Mục đích vay:Cho vay hạn mức thấu chi.
  • Để đảm bảo cho khoản vay trên: Ngày 20 tháng 7 năm 2021 ông Đỗ Văn T chủ sở hữu tài sản cùng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Ngọc Á đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 2801- 291918503/HĐTC, Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất cụ thể theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DB481460 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh V cấp ngày 25 tháng 3 năm 2021; Số vào sổ cấp giấy: CS02646 đứng tên Ông Đỗ Văn T; Thửa đất số: 1368, Tờ bản đồ số: 23; Địa chỉ thửa đất: Thôn V, Xã T, Thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Diện tích: 169,8m² (Bằng chữ: Một trăm sáu mươi chín phẩy tám mét vuông). Loại đất: Đất ở tại nông thôn: 100,0m² + Đất trồng cây lâu năm: 69,8m².
  • Ngày 26/5/2022 Ngân hàng và và ông Đỗ Văn T bà Nguyễn Thị Ngọc Á đã ký: Văn bản sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp số: 2801-291918503.1/VBSĐBS.
  • Thực hiện Hợp đồng tín dụng số: 2801LAV202101644 ngày 22/07/2021: Theo nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng. Ngân hàng đã giải ngân cho Ông: Đỗ Văn T vay số tiền: 700.000.000 đồng.
  • Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng số: 2801LAV202101644 ngày 22/7/2021. Ông Đỗ Văn T đã trả được cho Ngân hàng số tiền: 380.485.754 đồng (Trong đó: tiền gốc: 250.000.000 đồng, tiền lãi: 130.485.754 đồng).
  • Thực hiện Hợp đồng tín dụng số: 2801LAV202201134 ngày 26/5/2022: Theo nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng. Ngân hàng đã giải ngân cho ông: Đỗ Văn T vay số tiền: 1.300.000.000 đồng.
  • Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng số: 2801LAV202201134 ngày 22/7/2021 anh Đỗ Văn T đã trả được cho Ngân hàng số tiền: 74.438.355 đồng (Trong đó: tiền gốc: 0 đồng, tiền lãi: 74.438.355 đồng).
  • Thực hiện Hợp đồng tín dụng số: 2801LAV202301142 ngày 28/7/2023: Theo nhu cầu sử dụng vốn của khách hàng. Ngân hàng đã giải ngân cho anh Đỗ Văn T vay số tiền: 100.000.000 đồng.
  • Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng số: 2801LAV202301142 ngày 28/7/2023, anh Đỗ Văn T đã trả được cho Ngân hàng số tiền: 1.946.869 đồng (Trong đó: tiền gốc: 252.892 đồng, tiền lãi: 1.693.977 đồng).
  • Tính đến ngày 30/9/2024, anh T, chị Á còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là: 1.849.747.108 đồng; tiền lãi là: 309.379.214 đồng. Tổng cộng: 2.159.126.322 đồng (Hai tỷ một trăm năm mươi chín triệu một trăm hai mươi sáu nghìn, ba trăm hai mươi hai đồng).

Bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bản tự khai thừa nhận toàn bộ quá trình vay nhận nợ như trên nhưng đề nghị được miễn toàn bộ tiền lãi, phương án trả nợ sẽ thu xếp sau. Trường hợp nếu không trả được nợ thì anh T, chị Á đồng ý để Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp là nhà đất để thu hồi nợ.

Xét thấy việc vay nợ giữa Ngân hàng với anh Đỗ Văn T, chị Nguyễn Thị Ngọc Á với mục đích kinh doanh được ký kết bằng hợp đồng tín dụng số 2801- LAV- 202101644 ngày 22/7/2021; Hợp đồng tín dụng số 2801LAV202201134 ngày 26/5/2022 và Hợp đồng tín dụng số 2801LAV202301142 ngày 28/7/2023. Tại hợp đồng thế chấp tài sản ngày 20/7/2021 có chữ ký của anh T, chị Á nhưng quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thừa nhận đây là tài sản của anh T, chị Á. Xét về hình thức và nội dung của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất mà các bên ký kết đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, hợp đồng được công chứng tại văn phòng C1 và được đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ chi nhánh thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Đối với yêu cầu của anh T, chị Á đều đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện miễn toàn bộ tiền lãi cho anh T, chị Á, đối với thời gian trả nợ sẽ thu xếp sau. Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng không đồng ý với thời gian trả nợ như đề nghị của anh T, chị Á mà chỉ đồng ý thời gian trả nợ vào ngày 31/12/2024 và không đồng ý miễn tiền lãi cho anh T, chị Á. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng với anh T, chị Á vì theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 7 trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết thì “bên vay có nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay, phí đầy đủ, đúng thời hạn đã thỏa thuận tại hợp đồng”. Vì vậy, buộc anh Đỗ Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc Á phải trả cho Ngân hàng N tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2024 là 2.159.126.322 đồng (trong đó nợ gốc là 1.849.747.108 đồng; lãi trong hạn 221.049.864 đồng, lãi quá hạn 73.026.027 đồng và lãi thấu chi 15.303.323 đồng.

Ngân hàng được đề nghị xử lý phát mại tài sản thế chấp của anh Đỗ Văn T tại thửa đất số 1368, tờ bản đồ 23 vị trí đất tại thôn V, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 2801- 291918503/HĐTC ngày 20/7/2021 để thu hồi nợ trong trường hợp anh T, chị Á không thực hiện được việc trả nợ.

Đối với tài sản thế chấp mà Ngân hàng đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý phát mại, kết quả xem xét thẩm định đối với thửa đất về hình thể không có thay đổi gì về mốc giới, diện tích như trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên đất có ngôi nhà 02 tầng diện tích mỗi tầng là 151,5m²; 01 sân lát gạch đỏ trước nhà có diện tích 33m²; 01 sân lát gạch đỏ bên cạnh nhà 02 tầng diện tích 43m²; 01 lán tôn phía sau ngôi nhà có diện tích 21,6m²; 01 lán tôn phía trước ngôi nhà diện tích 35,5m²; 01 hàng rào gắn sắt hộp; 01 trụ cổng và 01 cánh cổng sắt.

Nếu tài sản sau khi được bán phát mại không đủ để trả nợ thì anh Đỗ Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc Á tiếp tục phải trả nợ cho Ngân hàng N.

[5] Về chi phí tố tụng: Ngân hàng không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Anh Đỗ Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc Á phải chịu án phí theo giá ngạch đối với nghĩa vụ phải thực hiện là 72.000.000đ + 2% (159.126.322đ) là 3.182.526đ = 75.182.526đ, làm tròn (75.182.000đ). Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 322, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91; khoản 4 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với anh Đỗ Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc Á.

    Buộc anh Đỗ Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc Á có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N số tiền gốc và lãi tính đến ngày 30/9/2024 là 2.159.126.322 đồng (trong đó nợ gốc là 1.849.747.108 đồng; lãi trong hạn 221.049.864 đồng, lãi quá hạn 73.026.027; lãi thấu chi 15.303.323 đồng theo hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng N với anh Đỗ Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc Á và tiếp tục trả lãi trên số tiền gốc kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi tất toán khoản vay theo mức lãi suất quá hạn mà Ngân hàng và anh Đỗ Văn T đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 2801- LAV- 202101644 ngày 22/7/2021; Hợp đồng tín dụng số 2801LAV202201134 ngày 26/5/2022 và Hợp đồng tín dụng số 2801LAV202301142 ngày 28/7/2023. Thời gian trả nợ vào ngày 31/12/2024.

  2. Đến ngày 31/12/2024, trường hợp nếu anh Đỗ Văn T, chị Nguyễn Thị Ngọc Á không trả được khoản tiền nêu trên thì Ngân hàng N được đề nghị cơ quan Thi hành án xử lý phát mại tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 2801- 291918503/HĐTC ngày 20/7/2021 bao gồm: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1368, tờ bản đồ 23, vị trí đất tại thôn V, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB481460, số vào sổ cấp GCNQSDĐ CS02646 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh V cấp ngày 25/3/2021 mang tên ông Đỗ Văn T và biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ do Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên lập ngày 05/6/2024 để thu hồi nợ. Tài sản trên đất gồm: 01 ngôi nhà 02 tầng diện tích mỗi tầng là 151,5m²; 01 sân lát gạch đỏ trước nhà có diện tích 33m²; 01 sân lát gạch đỏ bên cạnh nhà 02 tầng diện tích 43m²; 01 lán tôn phía sau ngôi nhà có diện tích 21,6m²; 01 lán tôn phía trước ngôi nhà diện tích 35,5m²; 01 hàng rào gắn sắt hộp; 01 trụ cổng và 01 cánh cổng sắt.

    Nếu phát mại tài sản trên mà không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì anh Đỗ Văn T, chị Nguyễn Thị Ngọc Á phải tiếp tục phải trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán khoản vay.

  3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Buộc anh Đỗ Văn T, chị Nguyễn Thị Ngọc Á phải chịu 75.182.000 đồng. Hoàn trả lại Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 35.800.000 đồng (Ba mươi lăm triệu tám trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002308 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

    Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên;
  • - Các đương sự trong vụ án;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lê Nữ Hương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/KDTM-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 05/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hđtd
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger