Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN HỒNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25-4-2024

“ V/v tranh chấp về ly hôn”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Quyên;

Bà Bùi Nguyễn Tuyết Minh.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Liếng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Định - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Hồng, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2024, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Dương Văn T, sinh năm 1966
  2. Bị đơn: Bà Võ Thị Kim T1 (T2) sinh năm 1970

Cùng địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, tất cả đều có đơn xin vắng mặt.)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19/12/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Dương Văn T ý kiến như sau: Vào năm 1993, ông và bà Võ Thị Kim T1 (Thoa) chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết. Cả hai chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, sống không hạnh phúc, đã hàn gắn nhiều lần nhưng không được. Nay ông yêu cầu được ly hôn với bà Võ Thị Kim T1 (T). Về con chung: Có 02 con chung tên Dương Thị Kim X, sinh ngày 10/11/1997 và Dương Hoàng N, sinh ngày 11/7/2001. Hai con chung đã trưởng thành và tự lao động sinh sống được nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Có một căn nhà cấp 4 cất trên diện tích đất 61,9m² tại ấp T xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp thuộc thửa 12, tờ bản đồ 13, đất ở nông thôn, vợ chồng đã thỏa thuận chia đôi, ông ½, vợ ông ½, phần của ông thì ông cho lại con ông, để T1 và 2 con đứng tên giấy tờ nhà đất này. Do đó, vợ chồng đã thỏa thuận nên ông không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Theo văn bản ý kiến và xin vắng mặt bị đơn bà Võ Thị Kim T1 (T2) ý kiến như sau: Bà tên là T1 tên thường gọi là T2, sinh năm 1970. Vào năm 1993 bà và anh Dương Văn T cưới nhau, không đăng ký kết hôn, do điều kiện đi làm thuê, khó khăn. Vợ chồng chung sống được khoảng 5 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng hàn gắn tình cảm nhiều lần nhưng không được. Vợ chồng đã không còn sống chung hơn 8 năm nay. Đối với yêu cầu ly hôn của anh Dương Văn T thì bà đồng ý. Về con chung: Vợ chồng có 2 con chung tên Dương Thị Kim X sinh ngày 10/11/1997 và Dương Hoàng N, sinh ngày 11/07/2001. Các con đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Có một căn nhà cấp 4 cất trên diện tích đất 61,9m² tại ấp T xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp thuộc thửa 12, tờ bản đồ 13, đất ở nông thôn. Vợ chồng đã thỏa thuận chia đôi, bà ½, anh T ½ phần của anh T thì anh T cho lại con, để bà và 2 con đứng tên giấy tờ nhà đất này. Do đó, vợ chồng đã thỏa thuận nên bà không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bận công việc nên xin được vắng mặt tất cả các giai đoạn tố tụng của Tòa án kể cả xét xử sơ thẩm.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng thủ tục tố tụng.

Về nội dung giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Dương Văn T và bà Võ Thị Kim T1 (T2). Về con chung: Đã trưởng thành và tự lao động sinh sống được nên các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đề nghị xem xét giải quyết.

Kiến nghị khắc phục: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ông Dương Văn T khởi kiện bà Võ Thị Kim T1 (T2), sinh năm 1970, địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để yêu cầu ly hôn. Đây là vụ kiện “Tranh chấp về ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt và tất cả có đơn xin vắng mặt. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Ông Dương Văn T và bà Võ Thị Kim T1 (T) cho rằng ông, bà chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1993 nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thì ông, bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm, sống không hạnh phúc, đã hàn gắn nhiều lần nhưng không được. Đối với yêu cầu ly hôn của ông T thì bà T1 đồng ý ly hôn.

Theo tài liệu, chứng cứ mà ông T cung cấp khi khởi kiện là đơn xin xác nhận đề ngày 13/12/2023 của ông T có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T ngày 19/12/2023 thể hiện thông tin ông Dương Văn T sinh năm 1966 và bà Võ Thị Kim T3 sinh năm 1970 cùng ngụ ấp T, xã T, huyện T không đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T.

Theo tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được gồm: Văn bản số 141/UBND ngày 26/02/2024 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang cung cấp thông tin “Kết quả tra cứu tàng thư hộ tịch tại Ủy ban nhân dân xã B, trong thời gian cư trú tại xã B, không tìm thấy giấy kết hôn tên Dương Văn T, sinh năm 02/02/1966 và Võ Thị Kim T3, sinh năm 1970...” và Văn bản số 26/UBND ngày 29/3/2024 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang cung cấp thông tin “Sau khi tiến hành kiểm tra sổ lưu đăng ký hộ tịch kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang và xác minh thông tin nơi cư trú Công an xã Đ thì bà Võ Thị Kim T1 đã chuyển khẩu về Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp từ năm 1993 đến nay. Như vậy ông Dương Văn T và bà Võ Thị Kim T1 chưa đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang...”

Thời điểm năm 1993 thì ông T và bà T1 (T3) có đủ kiều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nhưng ông, bà chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

Tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.”

Do đó, Hội đồng xét xử xét tuyên không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Dương Văn T và bà Võ Thị Kim T1 (T3) là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Dương Thị Kim X, sinh ngày 10/11/1997 và Dương Hoàng N, sinh ngày 11/7/2001. Hai con chung đã trưởng thành và tự lao động sinh sống được nên ông T, bà T1 đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Các đương sự đã tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Xét đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí sơ thẩm: Ông Dương Văn T phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Dương Văn T và bà Võ Thị Kim T1 (T3).
  • - Về con chung: Đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  • - Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc ông Dương Văn T chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0000598 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, ông T không phải nộp thêm. Bà Võ Thị Kim T1 (T3) không phải chịu tiền án phí.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tân Hồng;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Hồng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 05/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: KHÔNG CÔNG NHẬN QUAN HỆ VỢ CHỒNG
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger