|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2023/HS-ST. Ngày: 07 - 11 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HÒ - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Kim Oanh
Ông Nguyễn Thành Vương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Vì Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2023/TLST- HS ngày 24 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST- HS ngày 27 tháng 10 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Bùi Văn B; tên gọi khác: Không, sinh năm 1989, sinh tại huyện T, tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: Xóm T, xã G, huyện T, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn B1, sinh năm 1959 và bà Cao Thị T, sinh năm 1964; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 19/5/2023, Bùi Văn B bị UBND xã Q, huyện T, tỉnh Hòa Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc. Phạt tiền: 1.000.000 đồng. Ngày 20/6/2023, Bùi Văn B đã thi hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 25/7/2023 cho đến nay. Có mặt.
2. Bùi Văn C; tên gọi khác: Không, sinh năm 1994, sinh tại huyện T, tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: Xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: con ông Bùi Văn B1, sinh năm 1959 và bà Cao Thị T, sinh năm 1964, bị cáo có vợ là Đinh Thị H, sinh năm 1998; bị cáo có 01 con sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 25/7/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn B: Ông Đàm Mạnh H1 - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đinh Thị H, sinh năm:1998, trú tại: Xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 25/7/2023, do không có xe nên Bùi Văn B, sinh năm: 1989, trú tại: Xóm T, xã G, huyện T, tỉnh Hòa Bình đã gọi điện thoại cho Bùi Văn C, sinh năm: 1994, trú tại: Xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình (là em trai ruột của B) và nhờ C chở B lên huyện V để mua ma túy về sử dụng và B sẽ trả công cho C 500.000 đồng. Cần đồng ý. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, C điều khiển xe mô tô BKS 28E1-253.69 đến nhà đón B lên huyện V. Trên đường đi B đưa cho C 500.000 đồng tiền công đã thỏa thuận. Khi đi đến khu vực chợ L thuộc huyện T, tỉnh Hòa Bình thì C rẽ vào cây xăng mua 50.000 đồng tiền xăng. Sau đó C tiếp tục điều khiển xe chở B đi hướng V, tỉnh Sơn La. Khi đi đến ngã ba T thuộc địa phận huyện M, tỉnh Hòa Bình, C dừng xe đổi lái cho B. Trên đường đi B nhờ C gọi điện thoại vào số 0372.821.xxx để hỏi người đàn ông bán mua ma túy cho B (do trước đây B đã mua được ma túy của người đàn ông này một lần nên B đã xin số điện thoại để liên lạc) chỉ đường cho B và C vào nhà của người đàn ông này. Sau đó B điều khiển xe đi qua nhà máy C1 khoảng 200m rồi rẽ sang phải đi vào nhà người đàn ông bán ma túy. Khi đến nhà có cổng bằng sắt thì có một người đàn ông ra mở cửa, B đưa cho người đàn ông này 1.000.000 đồng và hỏi mua ma túy loại Heroine thì người đó đồng ý. Sau đó B đi vào nhà còn C ở ngoài xe đợi. Khi vào nhà, người đàn ông này đưa cho B một gói ma túy (H) bọc bằng mảnh nilon màu xanh. B xin người đàn ông này một ít ma túy (H) để B sử dụng. Người này đồng ý và trích ra một ít Heroine cho vào 01 mảnh giấy bạc đưa cho B sử dụng. Số ma túy còn lại người đàn ông này gói lại như cũ và lấy băng dính màu đen quấn lại. Khi B đang sử dụng ma túy thì C đi vào chỗ B đang ngồi và tự ý hít hai hơi xong Cần thấy đắng và chóng mặt nên C bỏ ra ngoài cửa. Khi bình sử dụng xong thì người đàn ông đó đưa gói ma túy vừa gói xong cho B. B cầm gói ma túy ở lòng bàn tay phải rồi ra xe cùng C đi về nhà. Khi B và C đi được khoảng 02 km thì gặp tổ công tác Công an huyện V đang làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Do sợ bị phát hiện đang cất giấu ma túy nên B đã thả gói ma túy đang cầm ở lòng bàn tay xuống đất và bị tổ công tác yêu cầu nhặt lên kiểm tra và phát hiện gói B vừa thả xuống đất, bên trong gói này có 01 lớp nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là H2. Lúc này B và C đã khai nhận đó là gói ma túy của B và C vừa mua được, mục đích để sử dụng. Căn cứ vào hành vi vi phạm của B và C tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định, đồng thời dẫn giải B và C cùng vật chứng liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an huyện V để điều tra, làm rõ. Tạm giữ: 02 chiếc điện thoại di động và 01 chiếc xe máy, số tiền: 1.473.000 đồng và một số vật chứng khác có liên quan.
Ngày 25/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ cùng phòng K Công an tỉnh S đã tiến hành cân tịnh xác định khối lượng chất bột màu trắng nghi là heroine thu giữ của Bùi Văn B và Bùi Văn C được 5,51 gam lấy 0,4 gam làm mẫu giám định ký hiệu B. Mẫu ký hiệu B được bàn giao cho Phòng K Công an tỉnh S giám định chất ma túy, loại ma túy.
Tại kết luận giám định số: 1836 ngày 28/7/2023 của phòng KTHS Công an tỉnh S đã kết luận:
“Mẫu ký hiệu B gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,4 gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 5,51 gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
- Kèm theo kết luận giám định: Không có tài liệu kèm theo.
H3 lại đối tượng giám định: Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.
Cáo trạng số: 115/CT-VKS ngày 24/10/2023 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Bùi Văn B và Bùi Văn C về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 5 Điều 249, khoản 2 Điều 35; Điều 17; Điều 58 BLHS: Xử phạt bị cáo Bùi Văn B từ 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 06 (S) năm tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý; xử phạt bị cáo Bùi Văn C từ 05 (Năm) năm tù đến 05 (Năm) năm 06 (S) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- - Phạt bổ sung đối với Bùi Văn B 1.000.000 đồng.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Bùi Văn C.
- - Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47, điểm a, b, c khoản 2 , điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS đề nghị:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vật chứng còn lại ký hiệu B1=5,11 gam + phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng 02 que test thử ma túy của Bùi Văn B và Bùi Văn C; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu HONDA, màu đỏ - đen và 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đen - trắng, đều là loại mũ nửa đầu, đã qua sử dụng.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đen, BKS 28E1-253.69; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc đều mang tên Bùi Văn C.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A52 màu đen bên trong chứa 02 sim số 0395894657 và 0366571866 của Bùi Văn C.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 450.000 đồng của bị cáo Bùi Văn C là số tiền do phạm tội mà có.
Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng đối với Bùi Văn C.
Trả lại bị cáo Bùi Văn B 1.000.000; trả lại bị cáo Bùi Văn C 23.000 đồng và 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở G cấp ngày 20/12/2016 mang tên Bùi Văn C.
Trả lại bị cáo Bùi Văn B 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh loại máy 105 bên trong chưa 01 sim số 0973948853 đã qua sử dụng.
- - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH buộc bị cáo Bùi Văn C phải chịu án phí HSST là 200.000 đồng; miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Văn B.
- - Ý kiến của Luật sư bào chữa: Bị cáo bị truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội không oan. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất trong khoảng đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo B và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- - Ý kiến của các bị cáo Bùi Văn B: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên; nhất trí với ý kiến bào chữa của luật sư bào chữa, không có ý kiến tranh luận gì khác.
- - Ý kiến của các bị cáo Bùi Văn C: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên không có ý kiến tranh luận gì khác.
- - Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Xin Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe máy mà bị cáo C sử dụng làm phương tiện phạm tội để gia đình có phương tiện đi lại.
- - Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2]. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh S, lời khai của người chứng kiến, bản tự khai; Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 25/7/2023, Bùi Văn B và Bùi Văn C đã có hành vi cất giấu trái phép 5,51 gam Heroine, mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện V làm nhiệm vụ tại bản Co Chàm, xã L, huyện V kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Bùi Văn B, Bùi Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội vai trò đồng phạm của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo Bùi Văn C là rất nghiêm trọng hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Bị cáo Bùi Văn C bị xử phạt vi phạm hành chính chưa được xóa tiền sự nay phạm tội là người có nhân thân xấu.
- Về vai trò đồng phạm: Bị cáo Bùi Văn B là người khởi sướng, thuê bị cáo Bùi Văn C chở lên huyện V, tỉnh Sơn La để mua ma túy và là người trực tiếp hỏi và mua ma túy. Bị cáo Bùi Văn C biết tiếp nhận ý trí, đồng ý chở B đi mua ma túy để hưởng 500.000 đồng tiền công. Do vậy, các bị cáo là đồng phạm với nhau trong vụ án. Bị cáo B giữ vai trò chính.
Các bị cáo đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam các bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
[5]. Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, ý kiến bào chữa của Luật sư bào chữa tại phiên tòa Hội đồng xét xử thấy:
- - Kiểm sát viên đề nghị về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp, có căn cứ được chấp nhận.
- - Ý kiến của luật sư bào chữa về việc cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự không được Hội đồng xét xử chấp nhận, bởi lẽ: Bị cáo đã học hết lớp 9, nhận thức được tác hại của ma túy nên buộc phải biết tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Về mức hình phạt luật sư đề nghị xử phạt bị cáo là chưa phù hợp, bởi lẽ: Bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nên là người có nhân thân xấu. Bên cạnh đó, huyện V là nơi điểm nóng đối với các tội phạm liên quan đến ma túy, nếu áp dụng mức án như luật sư đề nghị chưa đủ để răn đe. Đối với các đề nghị khác của luật sư được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Bùi Văn B khi bị bắt bị thu giữ 1.000.000 đồng là tài sản của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo B.
Bị cáo Bùi Văn C không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không có điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vật chứng còn lại ký hiệu B1 = 5,11 gam + phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng 02 que test thử ma túy của Bùi Văn B và Bùi Văn C; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu HONDA, màu đỏ - đen và 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đen – trắng, đều là loại mũ nửa đầu, đã qua sử dụng thu giữ của các bị cáo là những vật cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đen, BKS 28E1-253.69; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc đều mang tên Bùi Văn C, là tài sản chung của bị cáo và vợ là chị Đinh Thị H. Việc bị cáo sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy chị Đinh Thị H không biết. Tại phiên Tòa chị Đinh Thị H đề nghị trả lại cho chị chiếc xe máy làm phương tiện đi lại. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy chiếc xe máy bị cáo sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy để nhận tiền công mặc dù là tài sản chung của vợ chồng nhưng tịch thu nộp ngân sách Nhà nước chiếc xe là phương tiện phạm tội.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A52 màu đen bên trong chứa 02 sim số 0395894657 và 0366571866 là tài sản của bị cáo Bùi Văn C sử dụng làm phương tiện liên lạc mua ma túy nên tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh loại máy 105 bên trong chưa 01 sim số 0973948853 đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo Bùi Văn B không liên quan đến việc phạm tội, tuyên trả lại cho bị cáo.
Đối với số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Bùi Văn B không liên quan đến việc phạm tội tuyên trả lại cho bị cáo.
Đối với số tiền 473.000 đồng thu giữ của Bùi Văn C: Trong đó có 450.000 đồng là tiền công Bùi Văn B trả Bùi Văn C để chở đi mua ma túy; 23.000 đồng là tài sản của Bùi Văn C không liên quan đến việc phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước của bị cáo Bùi Văn C 450.000 là số tiền do phạm tội mà có; trả lại bị cáo Bùi Văn C 23.000 đồng.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở G cấp ngày 20/12/2016 mang tên Bùi Văn C là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội tuyên trả lại cho bị cáo C.
Đối với số tiền 50.000 đồng bị cáo C đã tiêu sài từ số tiền công bị cáo B trả, tuyên truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng đối với bị cáo Bùi Văn C.
[8] Về nguồn gốc chất ma túy: Về nguồn gốc số ma túy thu giữ: Bùi Văn B và Bùi Văn C khai nhận mua được của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 50 tuổi (B và C không quen biết) nhà ở gần khu vực nhà máy chê biến hoa quả TH thuộc bản C, xã L, huyện V qua số điện thoại 0372.821.xxx để mua ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu chính chủ số thuê bao 0372821727 là của anh Giàng A S1, sinh năm: 1976, trú tại: Xóm P, xã P, C, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Qua làm việc Giàng A S1 khai chưa từng đăng ký, sử dụng hay cho người khác mượn CMND để đăng ký sử dụng số thuê bao 372821727. Sênh cũng chưa từng liên hệ ai để mua ma túy. Ngày 24/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiến hành cho B và Cần xác định nhà đối tượng bán ma túy cho B và C qua bản ảnh, quá trình làm việc B và C không xác định được nhà đối tượng đã bán ma túy cho B và C vào ngày 25/7/2023. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện V không có căn cứ để điều tra làm rõ.
[9] Về án phí: Bị cáo Bùi Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; bị cáo Bùi Văn B là người thuộc hộ nghèo nên được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
2. Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn B, Bùi Văn C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
3. Áp dụng điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 249, khoản 1 Điều 38, khoản 2 Điều 35, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn B 06 (S) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2023.
- Phạt tiền bị cáo Bùi Văn B 1.000.000 đồng.
4. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn C 05 (Năm) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2023.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
5. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vật chứng còn lại ký hiệu B1=5,11 gam + phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở + vỏ gói ban đầu; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng 02 que test thử ma túy của Bùi Văn B và Bùi Văn C; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu HONDA, màu đỏ - đen và 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đen - trắng, đều là loại mũ nửa đầu, đã qua sử dụng.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn đen, BKS 28E1-253.69; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc đều mang tên Bùi Văn C.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A52 màu đen bên trong chứa 02 sim số 0395894657 và 0366571866.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 450.000 đồng của bị cáo Bùi Văn C.
- Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 50.000 đồng đối với bị cáo Bùi Văn C.
- Trả lại bị cáo Bùi Văn B số tiền 1.000.000 đồng; trả lại bị cáo Bùi Văn C số tiền 23.000 đồng và 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở G cấp ngày 20/12/2016 mang tên Bùi Văn C.
- Trả lại bị cáo Bùi Văn B 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh loại máy 105 bên trong chứa 01 sim số 0973948853 đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 11/BBVC-CCTHA ngày 25/10/2023.
6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- - Buộc bị cáo Bùi Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bùi Văn B.
7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hiếu |
Bản án số 05/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Bình + Đồng phạm, phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
