Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TỪ SƠN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HS-ST

Ngày 24/10/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Quang Bình, Bà Nguyễn Thị Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Anh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Từ Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn tham gia phiên

tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2023/TLST-HS ngày 05/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS ngày 11/10/2023 đối với:

1. Bị cáo: Hoàng Văn B, sinh năm 1990; Nơi đăng ký HKTT: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Thế V và bà Hứa Thị H; Có vợ Lý Thị O đã ly hôn và có 01 con sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Tại Bản án số 42/2014/HSST ngày 21/5/2014 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt Hoàng Văn B 15 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và 09 tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 24 tháng tù cho cả hai tội. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 09/9/2015.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/7/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị hại: Chị Đàm Thị T, sinh năm 1971; Địa chỉ: Khu phố M, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Thân Văn T1, sinh năm 1992; Địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 12/7/2023 tại nhà nghỉ B1 địa chỉ khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Hoàng Văn B đã có hành vi gian dối về việc thiếu tiền mua hàng để chiếm đoạt số tiền 8.000.000 đồng của chị Đàm Thị T. Sáng ngày 13/7/2023, B tiếp tục nói dối mượn điện thoại di động iphone 11 Promax màu vàng của chị T để nghe nhạc nhưng thực tế mang đi bán cho anh Thân Văn T1 với số tiền 8.400.000 đồng. Toàn bộ số tiền B chiếm đoạt của chị T, B đã chi tiêu hết. Ngày 23/7/2023, chị T đến Công an thành phố T trình báo. Ngày 24/7/2023, Hoàng Văn B đã đến công an thành phố T đầu thú.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 28/7/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên UBND thành phố T kết luận: “01 điện thoại di động iphone 11 Promax màu vàng, bộ nhớ trong 256GB có giá trị 12.000.000 đồng; 01 chiếc ốp nhựa màu trắng đã qua sử dụng có giá trị 5.000 đồng. Tổng giá trị của các tài sản nêu trên là 12.005.000 đồng”.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số 178/CT-VKSTS ngày 04/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn để xét xử bị cáo Hoàng Văn B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Bị cáo có quen biết với chị Nguyễn Thị N. Do bị cáo không có việc làm ổn định nên nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lấy tên giả là Lý Văn L khi làm quen với chị N. Ngày 10/7/2023, bị cáo liên lạc và biết chị N đang thuê trọ tại nhà nghỉ B1 địa chỉ khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (do chị T làm chủ) và hỏi chị N nhà nghỉ B1 còn phòng trọ không để bị cáo thuê cho công nhân của bị cáo ở. Chị N bảo bị cáo đến gặp trực tiếp hỏi chị T. Ngày 11/7/2023, bị cáo đến nhà nghỉ B1 gặp chị T giới thiệu tên là Lý Văn L là bạn cùng quê với chị N, làm nghề buôn bán hoa quả và đến thuê phòng cho công nhân và bị cáo ở. Chị T đồng ý cho bị cáo thuê phòng 001. Tối ngày 12/7/2023, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt tài tiền của chị T nên đã nói với chị T là có xe hàng đến nhưng không đủ tiền nên chủ hàng không cho xuống hàng và hỏi vay chị T 9.000.000 đồng sau đó bị cáo sẽ “hậu tạ” chị T sau. Chị T đồng ý và dẫn bị cáo đi vay tiền nhưng không ai cho vay. Vì vậy, bị cáo bảo chị T đi cầm cố 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 99B1-229.88 của chị T, chị T đồng ý. Bị cáo cùng chị T mang xe mô tô trên đến cửa hàng “cầm đồ 88” do anh Phùng Văn T2, sinh năm 1981 địa chỉ ở khu phố T, phường Đ, thành phố T làm chủ cầm cố xe mô tô được 8.000.000đ. Bị cáo cầm số tiền trên rồi cùng chị T về nhà trọ. Sáng ngày 13/7/2023, bị cáo ngủ dậy thì thấy chị T đang dọn dẹp trong phòng bếp. Lúc này, bị cáo tiếp tục nảy sinh ý định lừa lấy điện thoại của chị T mang đi bán. Bị cáo lấy lý do là mượn điện thoại của chị T để nghe nhạc, chị T đồng ý và bảo điện thoại ở trong phòng ngủ. Sau đó bị cáo vào phòng ngủ lấy điện thoại Iphone 11 Promax màu vàng, ốp nhựa màu trắng của chị T và đi ra phòng khách. Bị cáo hỏi mật khẩu để mở điện thoại thì chị T đọc mật khẩu là 920844. Bị cáo mở điện thoại rồi đứng ở phòng khách thấy chị T rửa bát không để ý, bị cáo đã cầm chiếc điện thoại bỏ đi tìm nơi tiêu thụ. Sau đó, bị cáo đi đến tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang bán chiếc điện thoại trên cho anh Thân Văn T1 là chủ cửa hàng “Tùng Anh Mobile” được số tiền 8.400.000 đồng. Toàn bộ số tiền bán điện thoại và tiền mặt chiếm đoạt được của chị T bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết.

Bị hại là chị Đàm Thị T yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị số tiền 8.000.000 đồng đã chiếm đoạt và bồi thường tài sản bị chiếm đoạt theo kết quả định giá tài sản 12.005.000 đồng, không yêu cầu gì đối với chiếc sim đã bị vứt, đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Thân Văn T1 không biết chiếc điện thoại mà bị cáo B bán cho anh là do phạm tội mà có. Anh T1 đã bán chiếc điện thoại này cho người không quen biết với giá 8.400.000 đồng nên không thể thu hồi được. Anh không có yêu cầu gì.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B từ 21 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/7/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 586, 589 Bộ luật dân sự; Điều 48 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Hoàng Văn B phải bồi thường cho chị Đàm Thị T số tiền 20.005.000 đồng.

Về vật chứng: 01 đoạn Video trích xuất từ C tại cửa hàng Đ được lưu giữ trong 01 USB lưu giữ trong hồ sơ.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản người phạm tội đầu thú và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Do không có tiền chi tiêu cá nhân, Hoàng Văn B đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị Đàm Thị T chủ nhà nghỉ B1 ở khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Buổi tối ngày 12/7/2023, B có hành vi gian dối chiếm đoạt 8.000.000 đồng của chị T. Sau đó, sáng ngày 13/7/2023, B tiếp tục có hành vi gian dối chiếm đoạt 01 điện thoại di động iphone 11 Promax màu vàng được bọc ốp nhựa màu trắng tổng giá trị 12.005.000 đồng của chị T mang bán cho anh Thân Văn T1 lấy số tiền 8.400.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hoàng Văn B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã truy tố.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2014 bị cáo đã bị xét xử về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Bắt giữ người trái pháp luật”. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án và đã được xóa án tích.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đến Công an đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo thực hiện 02 hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản vào ngày 12 và ngày 13/7/2023, giá trị tài sản mỗi lần phạm tội đều trên 2.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 bộ luật hình sự.

[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Chị Đàm Thị T yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền là 20.005.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu này của chị T là chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Buộc bị cáo Hoàng Văn B phải bồi thường cho chị Đàm Thị T số tiền 20.005.000 đồng

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Liên quan trong vụ án có anh Thân Văn T1 là chủ cửa hàng điện thoại Tùng Anh M đã mua chiếc điện thoại iphone 11 Promax của bị cáo B trong ngày 13/7/2023 với giá 8.400.000 đồng. Quá trình điều tra, anh T1 khai không quen biết với B cũng như không biết rõ nguồn gốc của chiếc điện thoại iphone 11 Promax, anh T1 đã bán lại chiếc điện thoại trên cho 01 người không quen biết với giá 8.400.000 đồng. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp với quy định pháp luật.

Đối với anh Phù Văn T3, nhận cầm cố xe môtô của chị T, quá trình điều tra xác định cửa hàng anh T3 có giấy chứng nhận kinh doanh hộ cá thể. Sau khi biết chị T bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản, anh T3 đã trả lại chị T chiếc xe môtô trên và chị T đã trả lại anh T3 8.000.000 đồng tiền cầm cố không lãi suất. Vì vậy Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp với pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự và Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B 22 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2023.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo Hoàng Văn B phải bồi thường cho chị Đàm Thị T số tiền 20.005.000 đồng.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND thành phố Từ Sơn;
  • - Công an thành phố Từ Sơn;
  • - Trại giam;
  • - Chi cục THADS thành phố Từ Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2023/HS-ST ngày 24/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 05/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn B lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger