|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2024/DS-ST
Ngày: 18/9/2024
V/v: “Tranh chấp quyền sử
dụng đất và yêu cầu hủy Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bế Ngọc Hùng
2. Bà Lê Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Mai Duy Định - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2024/TLST-DS ngày 18/6/2024 về việc “:“Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đình V – Sinh năm: 1963. Có mặt
- Bị đơn: Ông Lường Văn T – Sinh năm: 1961. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lường Văn T là: anh Lường Văn Thanh T1 - Sinh năm: 1990. Có mặt
Cùng địa chỉ: Thôn Bản Áng, xã Thanh Thịnh, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
- Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Ngọc T2 – Chức vụ: Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C. Vắng mặt.
- Bà Hoàng Thị B – Sinh năm: 1961. Có mặt
- Bà Sông Thị C – Sinh năm: 1965. Có mặt
Người đại diện theo ủy quyền của bà Hoàng Thị B là ông Lường Văn T. Vắng mặt
Người đại diện theo ủy quyền của bà Sông Thị C là ông Nguyễn Đình V. Có mặt
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn
4. Người làm chứng
- - Ông Giang Văn Á - Sinh năm: 1954. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
- - Ông Hà Trọng T3 - Sinh năm: 1955. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Đình V trình bày:
Gia đình ông V có thửa đất rừng thuộc khu K, Tón Quang thuộc thôn Bản Áng, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn với diện tích trước đây là khoảng gần 9000m², nhưng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2014 cho hộ gia đình ông thì diện tích chỉ có 2.912,0m². Thửa đất có vị trí tiếp giáp như sau: Phía Tây giáp đất nhà ông Lường Văn T; phía Đông giáp đất nhà ông Giang Văn Á, thôn Bản Áng, xã T; phía Đông Bắc giáp đất nhà ông Hà Trọng T3, thôn Bản Còn, xã T, còn khu đất của gia đình ông ở giữa. Về nguồn gốc, thửa đất trên gia đình ông canh tác trồng tre, hóp từ năm 1983, sau đó trồng thêm cói, hiện nay trên đất vẫn còn các gốc của khóm tre. Gia đình ông V canh tác suốt từ năm 1983 đến 2024 thì ông Lường Văn T lấn chiếm, trồng keo trên đất. Quá trình hòa giải tại Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã T ông mới biết diện tích đất của ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) cho ông Lường Văn T, thuộc thửa đất số 6, tờ bản đồ số 45.
Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Yêu cầu bị đơn ông Lường Văn T phải trả lại diện tích đất khoảng 9000m² có địa chỉ tại khu K, Tón Q thuộc thôn Bản Áng, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn
- - Hủy các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:
- + GCNQSDĐ số CB 586946 ngày 31/12/2014 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Nguyễn Đình V và bà Sông Thị C đối với thửa đất số 5, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.912,0m². Địa chỉ thửa đất: Khu Ố, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Nay là Thôn Bản Á, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn)
- + GCNQSDĐ số CB 586947 ngày 31/12/2014 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Lường Văn T và bà Hoàng Thị B đối với thửa đất số 6, tờ bản đồ số 1, diện tích 24.509,0m². Địa chỉ thửa đất: Khu Ố, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Nay là Thôn Bản Á, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn)
Sau khi có kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ xác định chính xác diện tích đất tranh chấp, tại phiên họp kiểm tra về giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nguyên đơn ông Nguyễn Đình V thay đổi yêu cầu khởi kiện, xác định yêu cầu khởi kiện cụ thể:
- - Yêu cầu bị đơn ông Lường Văn T phải trả lại hai phần đất tranh chấp có diện tích 512,0m² và 160,2m². Địa chỉ tại khu K, Tón Q thuộc thôn Bản Áng, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn
- - Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 586947 ngày 31/12/2014 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Lường Văn T và bà Hoàng Thị B đối với phần đất tranh chấp 512,0m² và 160,2m² thuộc thửa đất số 6, tờ bản đồ số 1. Địa chỉ thửa đất: Khu Ố, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Nay là Thôn Bản Á, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn)
- - Không yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 586946 ngày 31/12/2014 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Nguyễn Đình V1 và bà Sông Thị C đối với thửa đất số 5, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.912,0m². Địa chỉ thửa đất: Khu Ổ, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Nay là Thôn Bản Á, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn)
(Diện tích đất tranh chấp được xác định theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/8/2024 có bản trích đo địa chính thửa đất kèm theo)
2. Theo bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lường Văn T trình bày:
Vị trí, tứ cận thửa đất tranh chấp đúng như nguyên đơn xác định.
Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất: Thửa đất rừng ông được giao trong đó bao gồm cả phần đất tranh chấp có nguồn gốc trước đây là của Nhà nước, khoảng năm 1993 khi khép biên bản đồ các hộ gia đình không nhận thì đề nghị các hộ có đất trong khu đất trên là nhận hết diện tích để khép biên bản đồ. Đến thời điểm có dự án 327 và dự án 661 gia đình ông nhận và trồng cây theo dự án như cây lát và muồng...Sau khi trồng cây theo dự án 327 và dự án 661 không có hiệu quả thì gia đình ông chuyển sang trồng cây lâm nghiệp sử dụng đến nay. Quá trình sử dụng đất, ông và vợ là bà Hoàng Thị B đã được cấp GCNQSDĐ số CB 586947 ngày 31/12/2014 đối với thửa đất số 6, tờ bản đồ 45, trong đó bao gồm cả diện tích đất tranh chấp. Hình thửa gia đình ông quản lý từ trước năm 2000 đến nay vẫn như cũ, không có gì thay đổi. Các khóm tre của ông V gia đình ông vẫn giữ nguyên. Còn xung quanh các khóm tre của ông V thì gia đình ông đã canh tác từ lâu khoảng hơn 10 năm nay. Đến nay ông V mới phát sinh
tranh chấp với gia đình ông. Đối với phần diện tích hiện nay gia đình ông đang canh tác trồng cây keo (trồng lứa thứ 3 – gia đình sử dụng hơn 10 năm nay) ông không rõ đường biên nên gia đình ông mới trồng cây, ông nhất trí trả lại cho ông V nhưng cần đo đạc để biết diện tích cụ thể. Còn phần đất đã được cấp GCNQSDĐ cho ông có các khóm tre của ông V thì gia đình ông không quản lý và sử dụng khu đất đó. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông trả lại đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 586947 ngày 31/12/2014 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Lường Văn T và bà Hoàng Thị B, ông không nhất trí.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Sông Thị C trình bày: Bà C là vợ của nguyên đơn ông Nguyễn Đình V. Bà C nhất trí với toàn bộ nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Bà Hoàng Thị B trình bày: Bà B là vợ của bị đơn ông Lường Văn T. Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất bà B nhất trí như nội dung trình bày của ông T. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà B không nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do phần đất tranh chấp gia đình bà đã được cấp GCNQSDĐ và đã sử dụng ổn định, lâu dài
- Ủy ban nhân dân huyện C tại văn bản cung cấp thông tin và quá trình giải quyết vụ án trình bày:
Việc xác nhận, thẩm định đơn đăng ký cấp GCNQSDĐ cho hộ ông V và ông T đã được cơ quan chuyên môn ký, xác nhận theo quy định. Việc cấp GCNQSDĐ năm 2014 cho hai hộ trên là cấp lần đầu, quá trình cấp không có vướng mắc. Đối với yêu cầu hủy GCNQSDĐ của nguyên đơn, hiện nay UBND huyện C chưa có căn cứ để hủy, đề nghị Tòa án căn cứ vào kết quả xác minh, thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật
4. Những người làm chứng ông Giang Văn Á và ông Hà Trọng T3 trình bày: Ông Á và ông T3 không có quan hệ anh em, họ hàng gì với ông V và ông T, cũng không có mâu thuẫn gì với hai người trên. Các ông biết việc tranh chấp đất giữa ông V và ông T vì các ông có đất giáp ranh với đất của ông V và ông T. Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất, các ông thấy thửa đất tranh chấp gia đình ông V sử dụng trồng tre từ trước những năm 1987, hàng năm ông V vẫn vào khai thác, phát tre, lấy măng. Từ trước đến nay ông V là người sử dụng đất, thời gian gần đây mới xảy ra tranh chấp giữa hai bên.
5. Tại biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, các con của ông V, bà C là chị Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Ngọc H, anh Nguyễn Tiến S trình bày: Các anh chị khẳng định khu đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bố mẹ anh chị là ông V và bà C. Việc nhà nước cấp GCNQSDĐ cho ông V, bà C năm 2014 là chỉ cấp quyền sử dụng cho ông V và bà C. Bản thân các anh chị không có công sức đóng góp, tôn tạo, sử dụng đất và không có quyền lợi gì liên quan đến khu đất tranh chấp
6. Tại văn bản trình bày ý kiến các con ông T, bà B là anh Lường Văn Thanh T1, anh Lường Văn C1, chị Chu Thị N, chị Lường Thị N1 trình bày: Các anh chị khẳng định khu đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bố mẹ anh chị là ông T và bà B. Việc nhà nước cấp GCNQSDĐ số CB 586947 ngày 31/12/2014 cho ông T, bà B là chỉ cấp quyền sử dụng cho ông T và bà B. Bản thân các anh chị không có công sức đóng góp, tôn tạo, sử dụng đất và không có quyền lợi gì liên quan đến khu đất tranh chấp.
7. Tại biên bản xác minh ngày 22/8/2023 UBND xã T cung cấp như sau:
- *Về hiện trạng sử dụng đất:
Theo bản đồ địa chính đo đạc năm 2014: Khu đất hiện nay có vướng mắc thuộc thửa số 5, tờ bản đồ 45, diện tích 2.912,0m², loại đất RSX đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 586946 cho hộ ông Nguyễn Đình V và bà Sông Thị C. Hiện nay hộ ông Lường Văn T đã xử lý thực bì và trồng cây keo (Cây mới trồng) trên thửa đất số 5, tờ bản đồ 45 giáp ranh với thửa số 6, tờ bản đồ số 45, diện tích 24.509m², loại đất Rừng sản xuất (RSX) đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 586947 cho hộ ông Lường Văn T.
- *Về hiện trạng so với hồ sơ bản đồ địa chính:
Quan sát bằng trực quan hiện trạng so với hồ sơ bản đồ qua 02 loại bản đồ (bản đồ tổng hợp giao đất lâm nghiệp năm 1992 + 1997 + 1999 + 2000 và bản đồ địa chính đo đạc năm 2014) xác định khu vực hiện nay đang vướng mắc là đúng vị trí đất mà hiện nay hai hộ đang có tranh chấp đường biên giáp ranh. Tuy nhiên phần đất thuộc thửa số 5, tờ bản đồ số 45 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Đình V hiện nay hộ ông Lường Văn T đang canh tác trồng keo (cây mới trồng).
- * Về Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp:
Theo bản đồ tổng hợp giao đất lâm nghiệp năm 1992 + 1997 + 1999 + 2000 Khu đất hiện nay đang có vướng mắc thuộc lô số 10, Tiểu khu D, K, diện tích 0,8 ha mang tên ông Sông Văn C2 (ông Sông Văn C2 trước đây là trưởng thôn B) nhưng trên thực tế ông C2 không có đất ở đó, có thể là do lúc đó đất chưa quy chủ cho ai nên giao cho trưởng thôn quản lý. Đến thời điểm có dự án 327 và dự án 661 gia đình ông Lường Văn T nhận và trồng cây theo dự án như cây lát và muồng ... Sau khi trồng theo dự án 327 và dự án 661 hộ ông T chuyển sang trồng cây keo đã thu hoạch được hai đến ba lứa keo và tiếp tục sử dụng cho đến nay.
- * Quan điểm của Ủy ban nhân dân xã T về việc ông Nguyễn Đình V yêu cầu: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 586946 cấp cho hộ gia đình ông: Nguyễn Đình V2, Sông Thị C, với diện tích 2.912,0m² thuộc thửa đất số 5, tờ bản đồ số và Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình
ông Lường Văn T thuộc thửa số 6, tờ bản đồ 45, diện tích 24.509m² cùng địa chỉ: Khu Ô, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Do thời điểm cấp Giấy chứng nhận cho ông T thì ông V là người đang sử dụng và cấp không đúng diện tích cho nguyên đơn. Tại buổi hòa giải và làm việc tại ủy ban nhân dân xã T đã đề nghị hộ ông Lường Văn T trả lại phần đất đang canh tác trên thửa đất số 5, tờ bản đồ số 45 của ông Nguyễn Văn V3 và đề nghị hai hộ thỏa thuận đánh dấu mốc đường biên để quản lý và sử dụng đất về lâu dài. Nhưng ông V3 và ông T đều không nhất trí nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xem xét giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
8. Tại biên bản lấy lời khai ông Sông Văn C2 trình bày :
Ông không có đất rừng ở khu T, thôn B, xã T. Giai đoạn ông làm trưởng thôn Bản Áng, ông có được giao quản lý phần đất nghĩa trang và phần đất rừng đầu nguốn Tón Quang do đó phần đất rừng đầu nguồn Tón Quang theo bản đồ địa chính xã trước năm 2000 là lô đất số 10, tiểu khu D, khoảnh 7, diện tích 0,8 ha mang tên ông Sông Văn C2 trong đó bao gồm cả phần đất tranh chấp giữa ông V3 và ông T. Ông C2 xác định phần đất trên không phải đất của ông, ông không phải là người sử dụng mà chỉ là người đứng tên giúp Nhà nước để quản lý do vậy, ông không có quyền lợi gì liên quan đến thửa đất này và không có yêu cầu gì trong vụ án. Về nguồn gốc đất, trước đây tất cả đất Tón Quang, thôn Bản Áng là đất rừng đầu nguồn không giao cho ai. Sau này nhà nước giao cho ai không thì ông không nắm được. Về việc tranh chấp giữa ông V3 và ông T thì ông chỉ biết cả ông V3 và ông T đều có đất ở khu T, trước đây ông V3 có trồng tre ở dọc khe lên đến đỉnh, giáp thôn Bản Còn. Còn diện tích cụ thể đất rừng của ông V3, ông T thế nào ông không nắm được.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên lời khai. Đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn bổ sung thêm yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông T trả diện tích 155,5m² đất tranh chấp làm đường đi và đề nghị xác định diện tích này là lối đi chung
Bị đơn giữ nguyên các ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Đối với diện tích đường đất bị đơn nhất trí thỏa thuận với nguyên đơn xác định diện tích đất trên là lối đi chung.
Đối với các yêu cầu khởi kiện còn lại, bị đơn không nhất trí
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Nhất với thỏa thuận của nguyên đơn và bị đơn
Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện C giữ nguyên các nội dung đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Nhất với thỏa thuận của nguyên đơn và bị đơn
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên tòa để triệu tập các con của ông T, bà B tham gia tố tụng và triệu tập ông Nguyễn Tiến S1 là người bán tre trên đất tranh chấp tham gia tố tụng theo quy định tại điều 259, của BLTTDS
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Công nhận sự thỏa thuận đối với diện tích đường đất
Đình chỉ giải quyết đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng CB 586946 ngày 31/12/2014 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Nguyễn Đình V và bà Sông Thị C đối với thửa đất số 5, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.912,0m². Địa chỉ thửa đất: Khu Ố, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Nay là Thôn Bản Á, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn)
Án phí và chi phí tố tụng: Đương sự phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn, bị đơn đều có yêu cầu được sử dụng phần đất tranh chấp do vậy xác định đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 586947 ngày 31/12/2014 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Lường Văn T và bà Hoàng Thị B đối với phần đất tranh chấp 512,0m² và 160,2m² thuộc thửa đất số 6, tờ bản đồ số 1. Việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật tại Điều 26, Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 32 Luật tố tụng Hành chính.
[1.2] Về sự vắng mặt người làm chứng tại phiên tòa xét xử: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng tuy nhiên người làm chứng đều đã có lời khai trực tiếp với Tòa án và đều có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn giải quyết và xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp quy định của pháp luật tại Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Việc xác định tư cách tham gia tố tụng: Ông Sông Văn C2, các con ông V và bà C gồm chị Nguyễn Thị M, chị Nguyễn Ngọc H, anh Nguyễn Tiến S, các con ông T và bà B là anh Lường Văn Thanh T1, anh Lường Văn C1, chị Chu Thị N, chị Lường Thị N1 đều xác định không có công sức đóng góp, tôn tạo, sử dụng đất và không có quyền lợi gì liên quan đến khu đất tranh chấp. Do
vậy việc Tòa án không đưa những người trên vào tham gia tố tụng không ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của những người trên.
[1.4] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên tòa để triệu tập các con của ông T, bà B là anh Lường Văn C1, chị Chu Thị N, chị Lường Thị N1 vào tham gia tố tụng với tư các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đề nghị xác minh, lấy lời khai người bán tre trên đất là anh Nguyễn Tiến S theo quy định tại điều 259 của Bộ luật tố tụng dân sự. HĐXX thấy, như đã phân tích ở trên, các con ông T, bà B đều xác định định không có công sức đóng góp, tôn tạo, sử dụng đất và không có quyền lợi gì liên quan đến khu đất tranh chấp. Do vậy việc không đưa những người trên vào tham gia tố tụng không ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của những người trên, mặt khác, tại phiên tòa UBND huyện C xác định, trường hợp GCNQSDĐ cấp cho hộ gia đình thì GCNQSDĐ ghi cấp cho hộ gia đình và đại diện chủ hộ. Trường hợp cấp cho vợ chồng thì GCNQSDĐ ghi cấp cho ông ... và bà ... GCNQSDĐ cấp cho ông T ghi có sai sót đề nghị Tòa xác minh làm rõ. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải đưa những người trên vào tham gia tố tụng. Đối với yêu cầu xác minh, lấy lời khai anh Nguyễn Tiến S. HĐXX xét thấy vụ án không có tranh chấp về tài sản trên đất. Việc anh Nguyễn Tiễn S2 bán tre, ông V nắm được và không có ý kiến hay tranh chấp gì. Trường hợp nếu có tranh chấp có thể khởi kiện bằng 1 vụ án khác do đó HĐXX xét thấy không cần thiết phải xác minh, lấy lời khai anh Nguyễn Tiến S và đưa anh S1 vào tham gia tố tụng. Từ căn cứ nêu trên, Từ HĐXX xét thấy không có căn cứ tạm ngừng phiên tòa theo yêu cầu của Kiểm sát viên
[2.] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xác định phần đất tranh chấp trong vụ án: Căn cứ biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn, xác định diện tích đất tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn có địa chỉ tại Thôn B, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn gồm 03 phần diện tích cụ thể như sau:
- - Phần đất tranh chấp 1 có diện tích 512,0m² trên đất có 05 bụi tre đã khai thác hiện chỉ còn gốc và cành non mới mọc, ngoài ra chỉ có cỏ mọc tự nhiên, không có cây cối, tài sản gì khác.
- - Phần đất tranh chấp 2 có diện tích 155,5m² là đường đất.
- - Phần đất tranh chấp 3 có diện tích tích 160,2m² trên đất có 01 bụi tre đã khai thác hiện chỉ còn gốc và cành non mới mọc, ngoài ra chỉ có cỏ mọc tự nhiên, không có cây cối, tài sản gì khác.
(Các thửa đất tranh chấp được xác định theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/8/2024 có bản trích đo địa chính các thửa đất kèm theo)
Đối chiếu với bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã T năm 2014 thì toàn bộ đất tranh chấp nằm trong thửa số 6 tờ bản đồ 1 (Nay là số 45), GCNQSDĐ số CB 586947 ngày 31/12/2014 mang tên hộ ông Lường Văn T và bà Hoàng Thị B.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn ông V xác định diện tích đất tranh chấp ông yêu cầu Bị đơn ông T trả cho ông gồm 02 phần có diện tích 512,0m² và 160,2m², đối với phần có diện tích 155,5m² vẫn làm đường đi chung.
[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn diện tích đất tranh chấp
Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất:
Nguyên đơn ông Nguyễn Đình V khai nguồn gốc do gia đình nguyên đơn canh tác trồng tre, hóp từ năm 1983, sau đó trồng thêm cói, hiện nay trên đất vẫn còn các gốc của khóm tre. Gia đình ông canh tác suốt từ năm 1983 đến 2024 thì ông Lường Văn T lấn chiếm, trồng cây keo trên đất.
Bị đơn khai đất tranh chấp thuộc thửa đất rừng ông được giao trong đó bao gồm cả phần đất tranh chấp có nguồn gốc trước đây là của Nhà nước, khoảng năm 1993 khi khép biên bản đồ các hộ gia đình không nhận thì đề nghị các hộ có đất trong khu đất trên là nhận hết diện tích để khép biên bản đồ. Đến thời điểm có dự án 327 và dự án 661 gia đình ông nhận và trồng cấy theo dự án như cây lát và muồng...Sau khi trồng cây theo dự án 327 và dự án 661 không có hiệu quả thì gia đình ông chuyển sang trồng cây lâm nghiệp sử dụng đến nay. Quá trình sử dụng đất, ông và vợ là bà Hoàng Thị B đã được cấp GCNQSDĐ số CB 586947 ngày 31/12/2014 đối với thửa đất số 6, tờ bản đồ 45, trong đó bao gồm cả diện tích đất tranh chấp. Hình thửa đất gia đình ông quản lý từ trước năm 2000 đến nay vẫn như cũ, không có gì thay đổi. Các khóm tre của ông V gia đình ông vẫn giữ nguyên. Còn xung quanh các khóm tre của ông V thì gia đình ông đã canh tác từ lâu khoảng hơn 10 năm nay. Đến nay ông V mới phát sinh tranh chấp với gia đình ông. Đối với phần đất đã được cấp GCNQSDĐ cho ông có các khóm tre của ông V thì gia đình ông không quản lý và sử dụng khu đất đó. Từ những nhận định nêu trên, có căn cứ xác định đất tranh chấp có nguồn gốc do nguyên đơn canh tác trồng tre, hóp từ năm 1983, hàng năm nguyên đơn vẫn vào khai thác, phát tre, lấy măng.
Những người làm chứng ông Giang Văn Á, ông Hà Trọng T3 đều khai các ông thấy thửa đất tranh chấp gia đình ông V sử dụng trồng tre từ trước nững năm 1987, hàng năm ông V vẫn vào khai thác, phát tre, lấy măng. Từ trước đến nay ông V là người sử dụng đất, thời gian gần đây mới xảy ra tranh chấp giữa hai bên.
Ông Sông Văn C2 là trưởng thôn Bản Áng từ năm 2008 đến năm 2018 cho biết ông V và ông T đều có đất ở khu T thuộc thôn Bản Áng, trước đây ông V có trồng tre ở dọc khe lên đến đỉnh, giáp thôn Bản Còn.
Hội đồng xét xử xét thấy, lời khai của nguyên đơn phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất. Bị đơn ông Lường Văn T cũng thừa nhận trên đất có tre của ông V, các khóm tre của ông V gia đình ông vẫn giữ nguyên. Còn xung quanh các khóm tre của ông V thì gia đình ông đã canh tác từ lâu khoảng hơn 10 năm nay. Đến nay ông V mới phát sinh tranh chấp với gia đình ông. Đối với phần đất đã được cấp GCNQSDĐ cho ông có các khóm tre của ông V thì gia đình ông không quản lý và sử dụng khu đất đó. Từ những nhận định nêu trên, có căn cứ xác định đất tranh chấp có nguồn gốc do nguyên đơn canh tác trồng tre, hóp từ năm 1983, hàng năm nguyên đơn vẫn vào khai thác, phát tre, lấy măng.
Quá trình quản lý, sử dụng đất tranh chấp của nguyên đơn là ổn định, liên tục, không có tranh chấp, bị đơn không quản lý và sử dụng phần đất tranh chấp
Về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ số CB 586947 ngày 31/12/2014 cho hộ ông Lường Văn T và bà Hoàng Thị B đối với phần đất tranh chấp 512,0m² và 160,2m² thuộc thửa đất số 6, tờ bản đồ số 1. UBND huyện C khẳng định là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, về đối tượng sử dụng đất: Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ toàn bộ đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 6 tờ bản đồ 1 (Nay là số 45). Như đã phân tích ở trên, có căn cứ xác định đất tranh chấp nguyên đơn là người quản lý sử dụng đất liên tục từ năm 1983 đến nay, quá trình sử dụng ổn định, mốc giới rõ ràng, bị đơn chưa bao giờ quản lý, sử dụng đất tranh chấp nhưng UBND huyện C lại cấp quyền sử dụng diện tích đất trên cho bị đơn là không đúng quy định của pháp luật đất đai gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn ông Lường Văn T phải trả lại hai phần đất tranh chấp có diện tích 512,0m² và 160,2m². Địa chỉ tại khu K, Tón Q thuộc thôn Bản Áng, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn là có căn cứ, cần chấp nhận
[2.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 586947 ngày 31/12/2014 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Lường Văn T và bà Hoàng Thị B đối với phần đất tranh chấp 512,0m² và 160,2m² thuộc thửa đất số 6, tờ bản đồ số 1 (Nay là tờ D).
HĐXX xét thấy UBND huyện C cấp quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp thuộc thửa đất số 6, tờ bản đồ số 1 (Nay là tờ D) cho bị đơn là sai đối tượng, không đúng quy định của pháp luật đất đai gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì “Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết...”
Đối chiếu với quy định của pháp luật nêu trên Hội đồng xét xử thấy: Yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy GCNQSDĐ số CB 586947 ngày 31/12/2014 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Lường Văn T và bà Hoàng Thị B đối với phần đất tranh chấp 512,0m² và 160,2m² thuộc thửa đất số 6, tờ bản đồ số 1 (Nay là tờ D) là có căn cứ cần chấp nhận.
[3] Đối với phần đất tranh chấp là đường đất diện tích 155,5m² các đương sự thống nhất thỏa thuận xác định diện tích trên là lối đi chung. Việc thỏa thuận của cá đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, căn cứ Điều 246 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
[4] Đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 586946 ngày 31/12/2014 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Nguyễn Đình V và bà Sông Thị C đối với thửa đất số 5, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.912,0m². Địa chỉ
thửa đất: Khu Ố, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Nay là Thôn Bản Á, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn), tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn rút không yêu giải quyết, do vậy đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này.
[5] Về án phí và các chi phí tố tụng:
[5.1] Về án phí:
Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5.2] Về chi phí tố tụng: Căn cứ điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền là 6.100.000 đồng (Sáu triệu một trăm nghìn đồng). Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ do đó bị đơn phải trả số tiền 6.100.000 đồng (Sáu triệu một trăm nghìn đồng) cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Áp dụng: Điều 100, Điều 106, Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai 2013;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đình V
- Buộc bị đơn ông Lường Văn T phải trả lại hai phần đất tranh chấp có diện tích 512,0m² ( được giới hạn bởi các điểm: 1,2,A,B,7,8,9,10,1) và phần diện tích 160,2m² (được giới hạn bởi các điểm E,G,6,C,D,E) thuộc thửa đất số 6, tờ bản đồ số 1. Địa chỉ tại khu K, Tón Q thuộc thôn Bản Áng, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 586947 ngày 31/12/2014 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Lường Văn T và bà Hoàng Thị B đối với phần đất tranh chấp 512,0m² và 160,2m² thuộc thửa đất số 6, tờ bản đồ số 1. Địa chỉ thửa đất: Khu Ố, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Nay là Thôn Bản Á, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn)
- Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể: Phần đất tranh chấp là đường đất có diện tích 155,5m2 (được giới hạn bởi các điểm:
2,3,4,5,G,E,D,6,7,B,A,2) là lối đi chung. Đề nghị UBND huyện C chỉnh lý lại GCNQSDĐ theo quy định.
(Thửa đất tranh chấp được xác định theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/8/2024 có bản trích đo địa chính các thửa đất kèm theo)
Bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Đình V và ông Lường Văn T có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 586946 ngày 31/12/2014 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Nguyễn Đình V và bà Sông Thị C đối với thửa đất số 5, tờ bản đồ số 1, diện tích 2.912,0m². Địa chỉ thửa đất: Khu Ố, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Nay là Thôn Bản Á, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn)
- Về án phí:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Đình V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại ông V 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001812 ngày 15/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.
- Bị đơn ông Lường Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng:
Bị đơn ông Lường Văn T phải chịu 6.100.000 đồng (Sáu triệu một trăm nghìn đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ do đó bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền 6.100.000 đồng (Sáu triệu một trăm nghìn đồng)
Việc thi hành án dân sự đối với số tiền chậm trả: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thu Hương |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Bế Ngọc Hùng |
Lê Thị Thủy |
Hoàng Thị Thu Hương |
Bản án số 05/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 05/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn ông Nguyễn Đình V yêu cầu bị đơn ông Lường Văn T trả lại diện tích đất tranh chấp và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Lường Văn T
