Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 05/2024/KDTM-ST.

Ngày: 17/9/2024.

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Nhan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Vân, bà Nguyễn Thị Bích Thảo.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Hồng Quỳnh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân thành phố Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 09/2024/TLST-KDTM ngày 15 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-KDTM ngày 21 tháng 5 năm 2024, các thông báo hoãn phiên tòa, Thông báo mở lại phiên tòa, Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP H (M1); Địa chỉ trụ sở: Số E N, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L - Chức vụ: Tổng giám đốc M1; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Đức Q – Tổng giám đốc Ngân hàng M1; Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Hoàng Mạnh L1, ông Trần Lâm S, ông Bùi Anh V, ông Trần Vũ Q1, bà Trần Thị Phương T. Ông L1 có mặt.

- Bị đơn: Công ty cổ phần Đ (gọi tắt là Công ty Đ); Địa chỉ: Số C đường L, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T1 – Giám đốc. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn trình bày: MSB và công ty Đ ký kết hợp đồng tín dụng hạn mức số 005/2013/HĐTDHM –HD ngày 22/4/2013 và các phụ lục hợp đồng tín dụng hạn mức kèm theo với số tiền hạn mức 30.000.000.000đ. Ngân hàng đã giải ngân cho công ty Đ thể hiện bằng 09 khế ước nhận nợ:

  1. Khế ước nhận nợ số 005.06/13/HD ngày 04/07/2013:

    Số tiền nhận nợ: 3.869.000.000đ; Thời hạn vay: 03 tháng. Lãi suất vay: 13,5%/năm. Lãi suất quá hạn bằng: 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất vay được điều chỉnh theo quy định theo từng thời kỳ. Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền hàng cho Trung tâm T2; Kỳ hạn trả nợ gốc: trả nợ gốc vào cuối kỳ hoặc trong kỳ khi có nguồn thu. Kỳ hạn trả nợ lãi: trả vào ngày 26 tới ngày 30 hàng tháng. Hạn trả nợ cuối cùng là ngày 04/10/2013. Công ty Đ đã trả được: 4.144.022.447đ (trong đó bao gồm nợ gốc đã trả: 3.869.000.000 đồng; tổng nợ lãi đã trả: 275.022.447 đồng).

  2. Khế ước nhận nợ số 005.07/13/HD ngày 12/08/2013:

    Số tiền nhận nợ: 1.922.000.000đ. Thời hạn vay: 03 tháng. Lãi suất vay: 13,25%/năm. Lãi suất quá hạn bằng: 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất vay được điều chỉnh theo quy định theo từng thời kỳ. Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền hàng cho Trung tâm T2. Kỳ hạn trả nợ gốc: trả nợ gốc vào cuối kỳ hoặc trong kỳ khi có nguồn thu. Kỳ hạn trả nợ lãi: trả vào ngày 26 tới ngày 30 hàng tháng. Hạn trả nợ cuối cùng là ngày 12/11/2013. Công ty Đ đã trả được: 2.068.432.375đ (trong đó bao gồm nợ gốc đã trả: 1.922.000.000 đồng; tổng nợ lãi đã trả: 146.432.375 đồng).

  3. Khế ước nhận nợ số 005.08/13/HD ngày 12/08/2013:

    Số tiền nhận nợ: 1.862.000.000đ. Thời hạn vay: 3 tháng. Lãi suất vay: 13,25%/năm. Lãi suất quá hạn bằng: 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất vay được điều chỉnh theo quy định theo từng thời kỳ. Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền hàng cho Trung tâm T2. Kỳ hạn trả nợ gốc: trả nợ gốc vào cuối kỳ hoặc trong kỳ khi có nguồn thu. Kỳ hạn trả nợ lãi: trả vào ngày 26 tới ngày 30 hàng tháng. Hạn trả nợ cuối cùng là ngày 12/11/2013; Công ty Đ đã trả được: 2.007.935.279đ (trong đó bao gồm nợ gốc đã trả: 1.862.000.000 đồng; tổng nợ lãi đã trả: 145.935.279 đồng).

  4. Khế ước nhận nợ số 005.09/13/HD ngày 13/08/2013:

    Số tiền nhận nợ: 1.811.000.000đ. Thời hạn vay: 03 tháng. Lãi suất vay: 13,25%/năm. Lãi suất quá hạn bằng: 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất vay được điều chỉnh theo quy định theo từng thời kỳ. Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền hàng cho Trung tâm T2; Kỳ hạn trả nợ gốc: trả nợ gốc vào cuối kỳ hoặc trong kỳ khi có nguồn thu. Kỳ hạn trả nợ lãi: trả vào ngày 26 tới ngày 30 hàng tháng. Hạn trả nợ cuối cùng là ngày 13/11/2013. Công ty Đ đã trả được: 1.960.973.438đ (trong đó bao gồm nợ gốc đã trả: 1.811.000.000 đồng; tổng nợ lãi đã trả: 149.973.438 đồng).

  5. Khế ước nhận nợ số 005.10/13/HD ngày 13/08/2013:

    Số tiền nhận nợ: 1.920.000.000đ. Thời hạn vay: 3 tháng. Lãi suất vay: 13,25%/năm. Lãi suất quá hạn bằng: 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất vay được điều chỉnh theo quy định theo từng thời kỳ. Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền hàng cho Trung tâm T2. Hình thức rút vốn: Chuyển khoản. Kỳ hạn trả nợ gốc: trả nợ gốc vào cuối kỳ hoặc trong kỳ khi có nguồn thu. Kỳ hạn trả nợ lãi: trả vào ngày 26 tới ngày 30 hàng tháng. Hạn trả nợ cuối cùng là ngày 13/11/2013. Công ty Đ đã trả được: 2.079.000.000đ (trong đó bao gồm nợ gốc đã trả: 1.920.000.000 đồng; tổng nợ lãi đã trả: 159.000.000 đồng).

  6. Khế ước nhận nợ số 005.11/13/HD ngày 15/08/2013:

    Số tiền nhận nợ: 1.803.000.000đ. Thời hạn vay: 03 tháng. Lãi suất vay: 13,25%/năm. Lãi suất quá hạn bằng: 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất vay được điều chỉnh theo quy định theo từng thời kỳ. Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền hàng cho Trung tâm T2. Kỳ hạn trả nợ gốc: trả nợ gốc vào cuối kỳ hoặc trong kỳ khi có nguồn thu. Kỳ hạn trả nợ lãi: trả vào ngày 26 tới ngày 30 hàng tháng. Hạn trả nợ cuối cùng là ngày 15/11/2013. Công ty Đ đã trả được: 1.950.983.729đ (trong đó bao gồm nợ gốc đã trả: 1.803.000.000 đồng; tổng nợ lãi đã trả: 147.983.729 đồng).

  7. Khế ước nhận nợ số 005.12/13/HD ngày 15/08/2013:

    Số tiền nhận nợ: 1.815.000.000đ. Thời hạn vay: 03 tháng. Lãi suất vay: 13,25%/năm. Lãi suất quá hạn bằng: 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất vay được điều chỉnh theo quy định theo từng thời kỳ. Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền hàng cho Trung tâm T2. Kỳ hạn trả nợ gốc: trả nợ gốc vào cuối kỳ hoặc trong kỳ khi có nguồn thu. Kỳ hạn trả nợ lãi: trả vào ngày 26 tới ngày 30 hàng tháng. Hạn trả nợ cuối cùng là ngày 15/11/2013. Công ty CP Đ đã trả được: 1.963.968.646 đ (trong đó bao gồm nợ gốc đã trả: 1.815.000.000 đồng; tổng nợ lãi đã trả: 148.968.646 đồng).

  8. Khế ước nhận nợ số 005.13/13/HD ngày 26/08/2013:

    Số tiền nhận nợ: 3.825.000.000đ. Thời hạn vay: 03 tháng. Lãi suất vay: 13,25%/năm. Lãi suất quá hạn bằng: 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất vay được điều chỉnh theo quy định theo từng thời kỳ. Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền hàng cho Trung tâm T2. Kỳ hạn trả nợ gốc: trả nợ gốc vào cuối kỳ hoặc trong kỳ khi có nguồn thu. Kỳ hạn trả nợ lãi: trả vào ngày 26 tới ngày 30 hàng tháng. Hạn trả nợ cuối cùng là ngày 26/11/2013. Công ty CP Đ đã trả được: 3.252.844.470đ (trong đó bao gồm nợ gốc đã trả: 2.954.388.220 đồng; tổng nợ lãi đã trả: 298.456.250 đồng).

  9. Khế ước nhận nợ số 005.15/13/HD ngày 12/09/2013:

    Số tiền nhận nợ: 3.817.610.000đ. Thời hạn vay: 18 ngày. Lãi suất vay: 13,25%/năm. Lãi suất quá hạn bằng: 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất vay được điều chỉnh theo quy định theo từng thời kỳ. Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền hàng cho Trung tâm T2. Kỳ hạn trả nợ gốc: trả nợ gốc vào cuối kỳ hoặc trong kỳ khi có nguồn thu. Kỳ hạn trả nợ lãi: trả vào ngày 26 tới ngày 30 hàng tháng. Hạn trả nợ cuối cùng là ngày 30/09/2013. Công ty CP Đ đã trả được: 2.478.576.655đ (trong đó bao gồm nợ gốc đã trả: 2.238.900.000 đồng; tổng nợ lãi đã trả: 239.676.655 đồng).

Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty Đ đã trả được cho M1 tổng số tiền: 21.906.737.039 đồng (trong đó bao gồm: 20.195.288.220 đồng nợ gốc và 1.711.448.819 đồng nợ lãi). Mặc dù, MSB đã đôn đốc, tạo điều kiện nhiều lần để trả nợ nhưng Công ty Đ vẫn cố tình vi phạm, không thực hiện theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký xâm phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của M1. Tạm tính đến hết ngày 17/9/2024, Công ty Đ còn nợ MSB số tiền 12.795.255.526đ. Trong đó nợ gốc là: 2.449.321.780đ, nợ lãi là: 7.234.403.542đ; nợ lãi quá hạn là: 3.111.530.204đ.

Theo hợp đồng tín dụng trên các tài sản để đảm bảo cho khoản vay của công ty Đ gồm có 5 tài sản sau:

  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 202-1, tờ bản đồ số 60, C15+C16-N3 Khu đô thị M, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Theo hợp đồng thế chấp ngày 24/11/2010.
  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 28-2, tờ bản đồ 5H-III-14, tổ G, phường P, quận T, thành phố Hà Nội. Theo hợp đồng thế chấp ngày 02/6/2011.
  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 5b-A, tờ bản đồ số QH, B Thái Bình, phường T, thành phố H. Theo hợp đồng thế chấp ngày 19/9/2011.
  • Quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở tại thửa đất số 1866, tờ bản đồ số 1AB.15 khu T, phường D, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Theo hợp đồng thế chấp ngày 29/3/2012.
  • Thẻ cào điện thoại các loại (thẻ cào vật lý các hãng V2, M, V1) cầm cố tại bên A theo phương thức “Tiền vào – Hàng ra”.

Những người có tài sản thế chấp đã tự nguyện nộp tiền để xin giải chấp tài sản nên toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã giải chấp xong không còn tài sản nào đảm bảo cho nghĩa vụ còn lại của Công ty Đ. Đối với các tài sản thế chấp là các loại thẻ cào, ngân hàng không xác định được công ty quản lý ở đâu nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Tính đến thời điểm này khoản nợ còn lại theo hợp đồng tín dụng nêu trên không còn tài sản nào để đảm bảo cho nghĩa vụ của công ty Đ tại ngân hàng. Do vậy, đến nay Ngân hàng giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án buộc công ty Đ phải trả toàn bộ số nợ trên và còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ cho M1.

Tại biên bản lấy lời khai ông Lê Văn T1 người đại diện theo pháp luật cho Công ty Đ, trình bày: Ông là em họ anh Phạm Văn D, khoảng năm 2013, anh D có nhờ ông đứng tên làm đại diện theo pháp luật cho công ty cổ phần Đ. Còn thủ tục liên quan đến thay đổi đăng ký kinh doanh là do họ làm nên ông không nắm được. Bản thân ông cũng không góp cổ phần gì cho công ty Đ. Sau khi đứng đại diện theo pháp luật cho công ty G anh D, ông đã ủy quyền cho anh Nguyễn Văn C toàn quyền quyết định nên không tham gia hoạt động gì của công ty. Do vậy, ông không biết công ty có ký kết hợp đồng tín dụng, thế chấp gì với M1. Ông xác định chữ ký trong văn bản số 027/2013/BBUQ-ĐL ngày 21/11/2013 là của ông. Thời điểm anh D bị đưa ra xét xử về hành vi lừa đảo thì lúc đó anh Nguyễn Văn C bỏ trốn, còn hiện nay anh C ở đâu ông không biết. Còn anh D vẫn đang chấp hành án còn chấp hành án tại đâu ông không nắm được nên không thể cung cấp cho Tòa án địa chỉ cư trú hiện nay của anh D, anh C. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, do hiện nay trên giấy tờ ông vẫn là người đứng tên đại diện theo pháp luật cho công ty Đ nên Ngân hàng khởi kiện công ty Đ về việc buộc Công ty Đ thực hiện nghĩa vụ theo đơn khởi kiện ông đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Do tính chất công việc, ông xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và phiên tòa xét xử vụ án.

Xác minh tại sở kế hoạch đầu tư tỉnh H thể hiện: Công ty cổ phần Đ đang ở tình trạng mã 06, không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký. Ngoài trụ sở chính, doanh nghiệp không có văn phòng, chi nhánh hay địa điểm kinh doanh. Công ty Đ chưa chưa tách, giải thể, sát nhập, hợp nhất, chuyển đổi, phá sản. Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần thứ 5 ngày 18/11/2013, người đại diện theo pháp luật là ông Lê Văn T1.

Xác minh tại Công an phường P xác định: Tại địa chỉ số C đường L, phường P, thành phố H không có Công ty cổ phần Đ nào đặt biển hiệu. Công dân Nguyễn Văn C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại C L, phường P nhưng hiện không có mặt tại địa phương và thuộc diện truy nã theo Quyết định truy nã số 01 ngày 20/5/2014 của Cơ quan an ninh điều tra công an tỉnh Q.

Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện. Xác định các tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, các thẻ cào đến nay đã xử lý xong không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 116, Điều 117 Bộ luật dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 4, Điều 319 Luật Thương mại; Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H. Buộc Công ty cổ phần Đ phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP H khoản vay theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng hạn mức số 005/2013/HĐTDHM –HD ngày 22/4/2013 và các Khế ước nhận nợ đã ký kết với số tiền còn phải thanh toán tính đến ngày 17/9/2024 là 12.795.255.526đ. Trong đó nợ gốc là: 2.449.321.780đ, nợ lãi là: 7.234.403.542đ; nợ lãi quá hạn là: 3.111.530.204đ. Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty cổ phần Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ đã ký kết cho đến khi trả hết khoản nợ; Về án phí: Buộc Công ty cổ phần Đ phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định, hoàn trả ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: M1Công ty Đ là hai chủ thể có đăng ký kinh doanh, ký kết hợp đồng đều vì mục đích lợi nhuận. Công ty Đ có trụ sở chính tại phường P, thành phố H. Do vậy quan hệ pháp luật tranh chấp là Kinh doanh thương mại và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của MSB:

- Về số tiền nợ và nghĩa vụ trả nợ: MSB yêu cầu Công ty Đ phải thanh toán khoản tiền gốc, lãi theo hợp đồng tín dụng hạn mức số 005/2013/HĐTDHM –HD ngày 22/4/2013 và các Khế ước nhận nợ số 005.06/13/HD ngày 04/7/2013; Khế ước nhận nợ 005.07/13/HD ngày 12/8/2013; Khế ước nhận nợ 005.08/13/HD ngày 12/8/2013; Khế ước nhận nợ 005.09/13/HD ngày 13/08/2013; Khế ước nhận nợ 005.10/13/HD ngày 13/8/2013; Khế ước nhận nợ 005.11/13/HD ngày 15/8/2013, Khế ước nhận nợ 005.12/13/HD ngày 15/8/2013; Khế ước nhận nợ 005.13/13/HD ngày 26/8/2013; Khế ước nhận nợ 005.15/13/HD ngày 12/9/2013. HĐXX thấy rằng: Hợp đồng tín dụng nêu trên đã được các bên giao kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức của Hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 116, Điều 117 Bộ luật dân sự nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao kết hợp đồng. Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty Đ bằng 9 khế ước nhận nợ với số tiền 22.644.610.000đ. Công ty Đ đã trả được 21.906.737.039 đồng (Trong đó bao gồm: 20.195.288.220 đồng nợ gốc và 1.711.448.819 đồng nợ lãi). Tính đến ngày 17/9/2024, công ty Đ còn nợ là 12.795.255.526đ. Trong đó nợ gốc là: 2.449.321.780đ, nợ lãi là: 7.234.403.542đ; nợ lãi quá hạn là: 3.111.530.204đ, cụ thể:

  • + Khế ước nhận nợ số 005.06/13/HD ngày 04/7/2013 với số tiền nợ là 35.536.390đ trong đó nợ gốc là 0đ lãi trong hạn là 0đ, lãi quá hạn 35.536.390đ.
  • + Khế ước nhận nợ 005.07/13/HD ngày 12/8/2013 với số tiền nợ là 24.405.396đ, trong đó nợ gốc là 0đ, lãi trong hạn là 0đ, lãi quá hạn 24.405.396đ.
  • + Khế ước nhận nợ 005.08/13/HD ngày 12/8/2013 với số tiền nợ là 106.842.038đ, trong đó nợ gốc là 0đ, lãi trong hạn là 58.324.734đ, lãi quá hạn 48.517.304đ.
  • + Khế ước nhận nợ 005.09/13/HD ngày 13/08/2013 với số tiền nợ là 204.297.149đ, trong đó nợ gốc là 0đ, lãi trong hạn là 181.301.222đ, lãi quá hạn 22.995.927đ.
  • + Khế ước nhận nợ 005.10/13/HD ngày 13/8/2013 với số tiền nợ là 265,053.883đ, trong đó nợ gốc là 0đ; lãi trong hạn là 212.035.922đ, lãi quá hạn 53.017.961đ.
  • + Khế ước nhận nợ 005.11/13/HD ngày 15/8/2013 với số tiền nợ là 393.881.535đ, trong đó nợ gốc là 0đ, lãi trong hạn là 295.767.898đ, lãi quá hạn 98.113.637đ.
  • + Khế ước nhận nợ 005.12/13/HD ngày 15/8/2013 với số tiền nợ là 1.1240.529.484đ, trong đó nợ gốc là 0đ, lãi trong hạn là 901.765.924đ, lãi quá hạn 338.763.560đ.
  • + Khế ước nhận nợ 005.13/13/HD ngày 26/8/2013 với số tiền nợ là 4.361.035.725đ, trong đó nợ gốc là 870.611.780đ, lãi trong hạn là 2.397.339.922đ, lãi quá hạn 1.093.084.023đ.
  • Khế ước nhận nợ 005.15/13/HD ngày 12/9/2013 với số tiền nợ là 6.163.673.926đ, trong đó nợ gốc là 1.578.710.000đ, lãi trong hạn là 3.187.867.920đ, lãi quá hạn 1.397.096.006đ.

Do vậy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc công ty L2 phải trả toàn bộ số nợ trên và kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty cổ phần Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ đã ký kết là có cơ sở cần chấp nhận.

Đối với các tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, những người có tài sản thế chấp đã tự nguyện nộp tiền để xin giải chấp tài sản nên toàn bộ tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã giải chấp xong không còn tài sản nào đảm bảo cho nghĩa vụ còn lại của Công ty Đ. Đối với các tài sản thế chấp là các loại thẻ cào, người đại diện theo pháp luật cho công ty Đ cũng không nắm được các tài sản này hiện nay ở đâu. Tại phiên tòa Ngân hàng xác định các tài sản thế chấp là các loại thẻ cào đã xử lý xong không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy, HĐXX không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên không phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp, Công ty Đ phải chịu toàn bộ án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 116, Điều 117 Bộ luật dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 4, Điều 319 Luật Thương mại; Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP H.
    • - Về số tiền nợ, nghĩa vụ trả nợ: Buộc Công ty cổ phần Đ phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP H khoản vay theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng hạn mức số 005/2013/HĐTDHM –HD ngày 22/4/2013 và các Khế ước nhận nợ đã ký kết với số tiền còn phải thanh toán tính đến ngày 17/9/2024 là 12.795.255.526đ. Trong đó nợ gốc là: 2.449.321.780đ, nợ lãi là: 7.234.403.542đ; nợ lãi quá hạn là: 3.111.530.204đ, cụ thể:
      • + Khế ước nhận nợ số 005.06/13/HD ngày 04/7/2013 với số tiền nợ là 35.536.390đ trong đó nợ gốc là 0đ lãi trong hạn là 0đ, lãi quá hạn 35.536.390đ.
      • + Khế ước nhận nợ 005.07/13/HD ngày 12/8/2013 với số tiền nợ là 24.405.396đ, trong đó nợ gốc là 0đ, lãi trong hạn là 0đ, lãi quá hạn 24.405.396đ.
      • + Khế ước nhận nợ 005.08/13/HD ngày 12/8/2013 với số tiền nợ là 106.842.038đ, trong đó nợ gốc là 0đ, lãi trong hạn là 58.324.734đ, lãi quá hạn 48.517.304đ.
      • + Khế ước nhận nợ 005.09/13/HD ngày 13/08/2013 với số tiền nợ là 204.297.149đ, trong đó nợ gốc là 0đ, lãi trong hạn là 181.301.222đ, lãi quá hạn 22.995.927đ.
      • + Khế ước nhận nợ 005.10/13/HD ngày 13/8/2013 với số tiền nợ là 265,053.883đ, trong đó nợ gốc là 0đ; lãi trong hạn là 212.035.922đ, lãi quá hạn 53.017.961đ.
      • + Khế ước nhận nợ 005.11/13/HD ngày 15/8/2013 với số tiền nợ là 393.881.535đ, trong đó nợ gốc là 0đ, lãi trong hạn là 295.767.898đ, lãi quá hạn 98.113.637đ.
      • + Khế ước nhận nợ 005.12/13/HD ngày 15/8/2013 với số tiền nợ là 1.1240.529.484đ, trong đó nợ gốc là 0đ, lãi trong hạn là 901.765.924đ, lãi quá hạn 338.763.560đ.
      • + Khế ước nhận nợ 005.13/13/HD ngày 26/8/2013 với số tiền nợ là 4.361.035.725đ, trong đó nợ gốc là 870.611.780đ, lãi trong hạn là 2.397.339.922đ, lãi quá hạn 1.093.084.023đ.
      • Khế ước nhận nợ 005.15/13/HD ngày 12/9/2013 với số tiền nợ là 6.163.673.926đ, trong đó nợ gốc là 1.578.710.000đ, lãi trong hạn là 3.187.867.920đ, lãi quá hạn 1.397.096.006đ.

    Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Công ty cổ phần Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ đã ký kết cho đến khi trả hết khoản nợ tại Ngân hàng TMCP H.

  2. Về án phí: Buộc Công ty cổ phần Đ phải chịu 120.795.000đ (Một trăm hai mươi triệu, bẩy trăm chín mươi lăm nghìn đồng – đã làm tròn) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 60.131.500đ (Sáu mươi triệu, một trăm ba mươi mốt nghìn, năm trăm đồng), được thể hiện tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003078 ngày 10/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Hải Dương;
  • - Chi cục THADS TP Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Nhan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/KDTM-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 05/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng H - Cty D tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger