Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ QUÝ

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HS-ST

Ngày: 07-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Minh Thạo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Thọ và bà Bùi Thị Kim Huệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Quý.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lạc - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03, ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quý xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2024/TLST-HS, ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/HS-ST, ngày 19 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Hùng V

Trú Tại: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Thuận.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 00/12; nghề nghiệp: Làm biển; Nguyễn M (Đã chết); mẹ Nguyễn Thị Ọ; có vợ là chị Nguyễn Thị T, hiện nay đã ly hôn; con: 03 người con, lớn nhất 16 tuổi và nhỏ nhất 06 tuổi; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Hữu Ý - sinh năm: 1983 (Vắng mặt)

2/ Bà Đỗ Thị V1 - sinh năm: 1973 (Có mặt)

Cùng nơi cư trú: Thôn Q, xã L, huyện P, tỉnh Bình Thuận.

3/ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1988 (Có mặt)

Trú tại: Thôn T, xã L, huyện P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 19/01/2022, bị cáo Nguyễn Hùng V cho ông Nguyễn Hữu Ý vay 30.000.000 đồng, lãi suất 10% một tháng. Đến ngày 20/01/2022, ông Ý tiếp tục đến gặp ông V để vay số tiền 30.000.000 đồng lãi suất 10% một tháng. Tổng hai lần vay 60.000.000 đồng và đều không lập hợp đồng, không cầm cố, thế chấp tài sản gì. Theo thoả thuận mỗi tháng ông Ý phải trả lãi cho bị cáo V đến khi trả hết tiền gốc thì chấm dứt hợp đồng. Sau đó, bị cáo Nguyễn Hùng V gửi cho ông Ý số tài khoản 4815205057826 của bà Nguyễn Thị T (vợ bị cáo trước khi ly hôn) để ông Ý chuyển tiền trả lãi cho bị cáo. Đến ngày 22/02/2022, ông Ý chuyển trả lãi của khoản vay 60.000.000 đồng cho bị cáo V là 6.100.000 đồng do Ý trả lãi quá thời hạn 02 ngày. Sau đó, ông Ý không đồng ý việc trả lãi chậm nữa nên cả hai đã thống nhất thoả thuận những tháng tiếp theo không quy định ngày trả lãi cụ thể. Tổng số tiền lãi bị cáo V được hưởng theo mức cao nhất quy định là 1.018.700 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 5.081.300 đồng. Ngày 20/3/2022 và ngày 15/4/2022, ông Ý chuyển trả cho bị cáo tổng số tiền lãi của hai tháng là 12.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi bị cáo V được hưởng theo mức cao nhất quy định là 2.004.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 9.996.000 đồng. Tháng 5/2022, do ông Ý không có tiền trả lãi cho bị cáo V nên cả hai thống nhất cộng dồn số tiền lãi 6.000.000 đồng vào số tiền gốc 60.000.000 đồng thành số tiền vay là 66.000.000 đồng và những tháng tiếp theo ông Ý phải trả cho ông V tiền lãi theo lãi suất 10%/tháng của số tiền vay 66.000.000 đồng. Ngày 18/6/2022 và ngày 20/7/2022, Ý đã chuyển trả lãi hai tháng cho bị cáo V là 13.200.000 đồng. Tổng số tiền lãi V được hưởng theo mức cao nhất quy định là 2.204.400 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 10.995.600 đồng. Ngày 12/8/2022, do không đủ tiền nên ông Ý chỉ chuyển trả cho ông bị cáo V số tiền lãi là 6.000.000 đồng và ông V đồng ý. Tổng số tiền lãi V được hưởng theo mức cao nhất quy định là 1.002.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 4.998.000 đồng. Ngày 30/11/2022, do không có đủ tiền để trả lãi tháng 9, 10, 11 (tổng số 19.800.000 đồng) nên ông Ý chỉ trả cho ông V 8.800.000 đồng và V đã đồng ý. Tổng số tiền lãi V được hưởng theo mức cao nhất quy định là 1.469.600 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 7.330.400 đồng. Sau đó, ông Ý không còn khả năng trả lãi nữa nên hai bên thống nhất ông Ý phải trả cho ông V số tiền gốc đã vay, bị cáo V không thu tiền lãi. Khoảng tháng 9/2023, ông Ý trả cho bị cáo V số tiền gốc đã vay là 30.000.000 đồng và số tiền gốc còn lại 36.000.000 đồng thì Ý chưa trả. Tổng số tiền lãi mà ông Ý đã trả cho bị cáo V là 52.100.000 đồng, trong đó số tiền lãi được thu theo quy định là 8.700.700 đồng và tiền thu lợi bất chính mà ông V nhận được là 43.399.300 đồng.

Ngoài ra vào ngày 19/6/2023, bị cáo Nguyễn Hùng V cho bà Đỗ Thị V1 vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất 15%/tháng, không cầm cố, thế chấp tài sản gì. Mỗi tháng bà V1 thanh toán cho V số tiền lãi là 750.000 đồng, bà V1 đã thanh toán lãi 02 tháng với tổng số tiền 1.500.000 đồng. Tổng số tiền lãi V được hưởng theo mức cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 167.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 1.333.000 đồng. Đến tháng 8/2023, bà V1 tiếp tục vay V số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất 15%/tháng và ông V đưa cho bà V1 ký vào tờ giấy mượn tiền đã được đánh chữ sẵn, đối với khoản vay này bà V1 chưa thanh toán lãi lần nào. Tổng số tiền gốc của hai khoản vay là 25.000.000 đồng bà V1 chưa thanh toán cho Nguyễn Hùng V.

Về vật chứng vụ án: Tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S10⁺, kèm sim số 0947.582.621 của Nguyễn Hùng V và 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xr màu đen, kèm sim số 0938.487.266 của Nguyễn Hữu Ý;

Bị cáo Nguyễn Hùng V giao nộp 01 tờ giấy A4 có ghi chữ Hợp đồng về việc cho mượn tiền có thời hạn, trong đó có chữ ký của bên mượn tiền tên Đỗ Thị V1 với số tiền 20.000.000 đồng;

01 (một) đĩa DVD lưu file video hỏi cung bị can V trong vụ án.

Ngày 06/02/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xr màu đen, kèm sim số 0938.487.266 cho ông Nguyễn Hữu Ý.

Đối với vật chứng 01 tờ giấy A4 có ghi chữ Hợp đồng về việc cho mượn tiền có thời hạn, trong đó có chữ ký của bên mượn tiền tên Đỗ Thị V1 với số tiền 20.000.000 đồng được đóng dấu bút lục đưa vào hồ sơ vụ án.

Số vật chứng còn lại là 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S10⁺, kèm sim số 0947.582.621 của Nguyễn Hùng V. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã chuyển sang kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Quý theo biên bản giao, nhận ngày 18/3/2024.

Riêng 01 (một) đĩa DVD lưu file video hỏi cung bị can Nguyễn Hùng V được niêm phong và đưa vào hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSPQ ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Hùng V về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ” quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quý trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 201, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng V từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Buộc ông Nguyễn Hữu Ý phải nộp 36.000.000 đồng, bà Đỗ Thị V1 phải nộp 25.000.000 đồng để sung nộp ngân sách nhà nước;

Bị cáo Nguyễn Hùng V phải nộp lại số tiền 30.000.000 đồng mà ông Nguyễn Hữu ý đã trả cho bị cáo và 8.700.700 đồng tiền lãi thu được từ những người vay;

Đối với số tiền lãi đã vượt mức lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật dân sự nên buộc bị cáo Nguyễn Hùng V phải trả lại cho Nguyễn Hữu Ý số tiền 41.478.800 đồng theo yêu cầu của ông Nguyễn Hữu Ý. Riêng bà V1 có đơn không yêu cầu bị cáo V phải trả cho bà số tiền 1.333.000 đồng nên không xem xét.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S10⁺, kèm sim số 0947.582.621 của bị cáo Nguyễn Hùng V liên quan đến việc phạm tội thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước;

Tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình giải quyết vụ án, từ giai đoạn điều tra đến truy tố, điều tra viên và kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về hành vi cũng như quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng nêu trên là đúng pháp luật.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét việc thừa nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu, lời khai có trong hồ sơ vụ án cũng như đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu giữ trong quá trình điều tra, nên đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 12/2023 bị cáo Nguyễn Hùng V đã cho Nguyễn Hữu Ý vay 66.000.000 đồng và cho Đỗ Thị V1 vay 25.000.000 đồng với lãi suất từ 10%-15%/tháng, tương ứng với lãi suất 120%-180%/năm, cao gấp 6 đến 9 lần so với mức lãi suất tối đa theo quy định Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính của hai người vay với tổng số tiền là 44.732.300 đồng.

Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Hùng V đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đã trưởng thành, hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được hành vi cũng như hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra. Chỉ vì lợi ích trước mắt mà bị cáo lại cố ý phạm tội. Hành vi trên của bị cáo không những xem thường pháp luật mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm khắc tương xứng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Tuy nhiên, cần xem xét đến tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là lao động chính trong gia đình, có nhân thân tốt. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, từ khi phạm tội đến nay, bị cáo chấp hành pháp luật tốt nên xem xét xử phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp:

Đối với số tiền gốc mà Nguyễn Hùng V đã cho Nguyễn Hữu Ý và Đỗ Thị V1 vay nhưng chưa trả tiền gốc cho bị cáo nên cần buộc những người này phải nộp vào ngân sách nhà nước với tổng số tiền là 61.000.000 đồng, Trong đó: Nguyễn Hữu Ý phải nộp 36.000.000 đồng, bà Đỗ Thị V1 phải nộp 25.000.000 đồng.

Đối với số tiền gốc là 30.000.000 đồng mà ông Nguyễn Hữu Ý đã trả cho bị cáo Nguyễn Hùng V và số tiền lãi đã thu theo quy định 8.700.700 đồng từ những người vay nên buộc bị cáo phải nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước, tổng cộng bị cáo phải nộp là 38.700.700 đồng;

Đối với số tiền lãi đã vượt mức lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật dân sự nên buộc bị cáo phải trả lại cho ông Nguyễn Hữu Ý số tiền 43.399.300 đồng và trả cho bà Đỗ Thị V1 số tiền 1.333.000 đồng. Tuy nhiên, ông Nguyễn Hữu Ý chỉ yêu cầu số tiền 41.478.800 đồng nên Hội đồng xét xử chấp nhận, bà V1 không yêu cầu bị cáo V phải trả cho bà số tiền 1.333.000 đồng nên không xem xét.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S10⁺, kèm sim số 0947.582.621 của bị cáo Nguyễn Hùng V liên quan đến việc phạm tội thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước;

Đối với bà Nguyễn Thị T có biết bị cáo cho vay nhưng không biết bị cáo cho vay lãi nặng nên không xử lý là phù hợp.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 201, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hùng V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hùng V 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng

2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S10⁺, kèm sim số 0947.582.621 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/3/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Quý).

Buộc những người sau đây phải nộp tiền để sung nộp ngân sách nhà nước, gồm: Ông Nguyễn Hữu Ý phải nộp 36.000.000 đồng, bà Đỗ Thị V1 phải nộp 25.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Hùng V phải nộp 38.700.700 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Hùng V phải trả lại cho ông Nguyễn Hữu Ý số tiền 41.478.800 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu Thi hành án của người được thi hành án đối vớicác khoản tiền phải trả cho người được Thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại các Điều 357, 468 BLDS năm 2015, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Hùng V nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (07/5/2024). Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại

phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Phú Quý;
  • - Công an huyện Phú Quý;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Quý;
  • - Bị cáo; người có QLNVLQ;
  • - Lưu: V.P, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Minh Thạo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 05/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger