Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/KDTM-ST
Ngày: 16-9-2024
“V/v tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Tính và bà Vũ Thị Thái Hoà

-Thư ký phiên toà: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trần Thành - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 22 tháng 8 và ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 05/2024/TLST-KDTM ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc “tranh chấp Hợp đồng cho thuê tài chính” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 292/2024/QĐXXST-KDTM ngày 05 tháng 8 năm 2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 311/2024/QÐST-KDTM ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên toà số 320/TB-TA ngày 05 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty C (ALCI).

Địa chỉ: Số D, đường P, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Bà Trương Thị Xuân T, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Thanh S, chức vụ: Phó Tổng giám đốc (theo Quyết định về việc uỷ quyền cho cán bộ số 18/QĐ-ALCI-HCSN ngày 30/8/2023)

Người được uỷ quyền lại: Ông Đinh Sỹ Q - Phó trưởng phòng kinh doanh Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng C (theo giấy uỷ quyền số 56/ALCI-HCNS ngày 23/02/2024 của ông Dương Thanh S - Phó Tổng giám đốc Công ty cho thuê tài chính- Ngân hàng C). Có mặt

Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 VT

Địa chỉ: Lô C, khu công nghiệp T, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thụy V, chức vụ: Giám đốc.

Địa chỉ: Số B T, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng. (Vắng mặt, có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, những lời trình bày tiếp theo tại Toà án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Đinh Sỹ Q trình bày:

Trên cơ sở thoả thuận, Công ty C (viết tắt: A) đã ký hợp đồng cho thuê tài chính số 107/2007/ALC1 ngày 25/7/2007 và các phụ lục hợp đồng kèm theo với Công ty TNHH T1 (viết tắt: Công ty T1) gồm các nội dung chính như sau:

  • -Tài sản thuê gồm: 01 dây chuyền cắt dọc tôn đồng bộ ZJY-130; 01 dây chuyền sản xuất thép ống đồng bộ 20 (từ 6.5-20mm) thép hộp tương ứng; 01 dây chuyền sản xuất thép ống đồng bộ (từ 20-89mm) thép hộp tương ứng; thiết bị toàn bộ lò cảm ứng trung tần nấu đúc thép hình LVI các loại, dung tích 750kg/lò: 0.75 tấn-400KW; hệ thống máy móc thiết bị phụ trợ kèm theo các dây chuyền.
  • - Giá trị cho thuê theo hợp đồng 6.221.295.102đồng
  • - Đặt cọc: 970.289.553 đồng Ký cược: 300.000.000 đồng
  • - Dư nợ khi cho thuê: 5.251.005.549đồng
  • - Thời hạn thuê 84 tháng
  • - Ngày nhận nợ: 28/8/2007. Ngày trả nợ cuối cùng 22/7/2014
  • - Lãi suất khi cho thuê 1,15% tháng (3,49%/ quý). Lãi suất cho thuê được áp dụng lãi suất có điều chỉnh theo năm, mức lãi suất cụ thể tại thời điểm điều chỉnh thực hiện theo thông báo của A. Trường hợp để phát sinh nợ quá hạn lãi phạt quá hạn bằng 150% lãi suất cho thuê trong hạn.
  • - Mục đích sử dụng tài sản thuê là để phục vụ cho hoạt động kinh doanh hợp pháp của Công ty T1.

Tại hợp đồng cho thuê nói trên, Công ty T1 cam kết thanh toán tiền thuê cho ALCI đầy đủ, đúng hạn theo lịch thanh toán đính kèm hợp đồng này (Phụ lục 04B/ALCI) (Khoản 2 điều 14). Khi Công ty T1 vi phạm hợp đồng ở mức độ không thể khắc phục được ALCI có toàn quyền thu hồi ngay lập tức tài sản cho thuê và yêu cầu Công ty T1 phải thanh toán ngay toàn bộ số tiền thuê chưa trả theo hợp đồng cho thuê tài chính.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T1 đã luôn vi phạm hợp đồng thuê: Không thanh toán tiền thuê tài chính đầy đủ, đúng hạn, để phát sinh nợ quá hạn lớn và kéo dài, vi phạm khoản 2 điều 14 (Thanh toán tiền thuê) của hợp đồng cho thuê tài chính.

Đại diện ALCI đã rất nhiều lần đến trụ sở khách hàng thuê làm việc và gửi văn bản yêu cầu thanh toán dứt điểm nợ tồn đọng, thực hiện nghĩa vụ hợp đồng cho thuê tài chính nhưng khách hàng vẫn không thực hiện. Vì vậy ngày 005/4/2010 ALCI đã ra quyết định số 03/QĐ/ALCI-KD về việc thu hồi tài sản thuê tài chính của Công ty T1. Sau khi thu hồi tài sản cho thuê, ALCI và Công ty T1 đã thống nhất thoả thuận về việc bán đấu giá tài sản cho thuê. Ngày 25/7/2011, Công ty cổ phần Đ đề nghị mua tài sản thuê với giá 5.200.000.000đồng (giá đã bao gồm thuế GTGT).

Sau khi bàn bạc các bên thống nhất như sau: Công ty T1 đồng ý để ALCI hoàn thiện hồ sơ và chủ động làm thủ tục bán tài sản thuê tài chính trên cho Công ty cổ phần Đ với giá là 5.200.000.000 đồng (đã bao gồm thuế GTGT). Số tiền bán tài sản thu được sau khi trừ đi các nghĩa vụ phải nộp với Nhà nước sẽ thực hiện thu các chi phí thu hồi xử lý tài sản, thu nợ theo quy định (ưu tiên thu nợ gốc nhằm giảm lãi phát sinh cho bên thuê).

Sau đó do Công ty cổ phần Đ gặp khó khăn về tài chính đề nghị ALCI bán tài sản cho bên thứ ba là Công ty cổ phần T2. Ngày 30/12/2011 ALCI đã ký Hợp đồng mua bán số 01/2011/HĐMB với Công ty cổ phần T2. Ngày 09/01/2012, Công ty cổ phần T2 đã thanh toán toàn bộ số tiền trên cho ALCI và nhận bàn giao tài sản. ALCI đã thu hồi toàn bộ số nợ trên vào dư nợ gốc và một phần lãi trong hạn.

Tính đến ngày 10/01/2012 Công ty T1 còn phải thanh toán cho ALCI số tiền là 4.182.319.945 đồng (Bốn tỷ một trăm tám mươi hai triệu ba trăm mười chín nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng) trong đó: Lãi trong hạn: 1.872.472.444 đồng; Lãi quá hạn: 1.119.206.115 đồng và lãi tồn đọng từ Công ty cổ phần X: 1.190.641.386 đồng. Sau khi xử lý xong tài sản ALCI đã nhiều lần gửi thông báo nợ về việc thanh toán công nợ của Hợp đồng cho thuê tài chính số 107/2007/ALCI ngày 25/7/2007. Tuy nhiên, đến nay Công ty T1 vẫn không đến làm việc và không trả nợ cho ALCI.

Nay ALCI đề nghị Toà án nhân dân thành phố Việt Trì giải quyết:

  1. Tuyên buộc Công ty T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ALCI toàn bộ số tiền là 4.182.319.945 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ một trăm tám mươi hai triệu ba trăm mười chín nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng) trong đó: Lãi trong hạn: 1.872.472.444 đồng; Lãi quá hạn: 1.119.206.115 đồng và lãi tồn đọng từ Công ty X: 1.190.641.386 đồng.
  2. Và tuyên nếu Công ty T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật thì ALCI có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty T1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn, bà Nguyễn Thụy V trình bày:

Công ty TNHH T1 được thành lập ngày 19/10/2006 với thành viên góp vốn chính là: Công ty cổ phần T1 (60% vốn điều lệ) và Công ty cổ phần H1 (40% vốn điều lệ). Ngày 01/9/2013, Công ty T1 lập biên bản họp Hội đồng thành viên về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật (có văn bản) tại thời điểm đó bà là nhân viên của Công ty cổ phần T1. Ngày 16/9/2013, bà được Hội đồng thành viên công ty B làm người đại diện theo pháp luật để làm các thủ tục giải thể công ty và đóng mã số thuế của công ty và được thay đổi trên Sở kế hoạch đầu tư cấp giấy chứng nhận thay đổi lần thứ 4 ngày 16/9/2013, từ đó đến nay chưa có thay đổi gì chưa làm thủ tục giải thể cũng như phá sản, chấm dứt hoạt động tại Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Phú Thọ.

Từ khi nhận quyết định người đại diện theo pháp luật bà không được nhận bàn giao các số liệu liên quan đến việc mua bán thuê mua tài chính giữa Công ty TNHH T1Công ty C. Bà đã nhận lại số liệu bàn giao theo Báo cáo tài chính năm 2012. Theo số liệu bàn giao Công ty T1 còn nợ lại 258 triệu tiền lãi tại Công ty C (có thể hiện trên báo cáo tài chính). Đến thời điểm bà nhận bàn giao 16/9/2013 toàn bộ nghĩa vụ tài chính của Công ty T1 đã hoàn thiện với các bên. Bà đã làm thủ tục xin đóng mã số thuế và làm giải thể doanh nghiệp tại cơ quan thuế và được Cục thuế tỉnh P ra thông báo số 343/TB ngày 30/9/2013 về việc ngừng hoạt động và đang làm thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Tháng 3/2015, bà có đơn xin chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty T1 và đơn xin thôi không làm giám đốc tại Công ty T3 VT và đã được Công ty cổ phần T1 (đơn vị góp vốn) đồng ý và đã chấm dứt hợp đồng lao động với bà và Chủ tịch Công ty TNHH T1 VT đồng ý cho thôi Giám đốc tại Công ty T1. Vì vậy, bà không có nghĩa vụ gì với Công ty T1Công ty T1 VT về việc tranh chấp thương mại giữa Công ty CCông ty TNHH T1 liên quan đến thời điểm trước khi bà nhận bàn giao.

Nay bà nhận được thông báo về việc Công ty TNHH T1 phải trả số tiền 4.182.319.945 đồng trong đó: Lãi trong hạn: 1.872.472.444 đồng; Lãi quá hạn: 1.119.206.115 đồng và lãi tồn đọng từ Công ty X: 1.190.641.386 đồng. Và nếu Công ty T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật thì ALCI có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty T1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật, quan điểm của bà không được nhận bàn giao về việc thuê mua tài chính tại Công ty T1, việc bà đã chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty T1Công ty T1. Đề nghị Toà án làm việc với các thành viên góp vốn vào Công ty TNHH T1.

Đến nay việc Công ty TNHH T1 còn nợ Công ty cho thuê tài chính I Ngân hàng C như Công ty cho thuê tài chính khởi kiện hay không bà không biết. Bà đề nghị Toà án và Công ty C làm việc với các đơn vị thành viên góp vốn vào Công ty T1.

Tại phiên toà:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Ông vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trước đây tại Toà án. Đề nghị Toà án buộc Công ty T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ALCI toàn bộ số tiền là 4.182.319.945 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ một trăm tám mươi hai triệu ba trăm mười chín nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng) trong đó bao gồm: Lãi trong hạn: 1.872.472.444 đồng; Lãi quá hạn: 1.119.206.115 đồng và lãi tồn đọng từ Công ty X: 1.190.641.386 đồng. Và tuyên nếu Công ty T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật thì ALCI có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty T1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

*Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì có quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Vụ án được thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 385, 398 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 483 Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 91, khoản 2 Điều 112, Điều 113 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 156, khoản 2 Điều 157 Luật Doanh nghiệp 2005

Căn cứ vào Điều 306 của Luật Thương mại;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án;

Căn cứ khoản 4 Điều 20, điểm a khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 22 Nghị định 39/2014/NĐ-CP ngày 07/5/2014 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Công ty C và Công ty cho thuê tài chính

Căn cứ các Điều 10, 11, 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/012019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về áp dụng lãi suất;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Đề nghị HĐXX xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cho thuê tài chính I Ngân hàng C: Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 VT phải thanh toán số tiền còn nợ là 4.182.319.945 đồng; Trong đó: Lãi trong hạn: 1.872.472.444 đồng; Lãi quá hạn: 1.119.206.115 đồng; Lãi tồn đọng từ Công ty X: 1.190.641.386 đồng.
  2. Không chấp nhận nội dung khởi kiện: Đề nghị Toà án tuyên nếu Công ty trách nhiệm hữu hạn T1 VT không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Công ty C có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý các tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
  3. Về án phí: Bị đơn chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Nguyên đơn Công ty cho thuê tài chính I Ngân hàng C khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH T1 trả tiền thuê tài chính theo Hợp đồng cho thuê tài chính số 107/2007/ALC1 ngày 25/7/2007 được xác định là tranh chấp giữa các doanh nghiệp đều có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và mục đích lợi nhuận nên đây là tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn theo Hợp đồng cho thuê tài chính có địa chỉ tại xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì theo quy định tại khoản 1 điều 30, khoản 1 điều 35 và khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự không thoả thuận được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án nên vụ án phải đưa ra xét xử theo thủ tục chung. Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của bị đơn có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Phiên tòa ngày 22/8/2024, đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì đề nghị tạm ngừng phiên tòa để tiến hành xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ các thành viên góp vốn và người đại diện theo pháp luật trước đây của Công ty TNHH T1 nên Hội đồng xét xử Quyết định tạm ngừng phiên tòa. Sau khi tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử thông báo mở lại phiên tòa.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Xét hợp đồng cho thuê tài chính số 107/2007/ALC1 ngày 25/7/2007, các phụ lục hợp đồng, các biên bản làm việc, biên bản thoả thuận giữa ALCI và Công ty T1.

ALCI và Công ty T1 đều là các pháp nhân có đăng ký kinh doanh; việc ký hợp đồng, phụ lục hợp đồng và các văn bản khác thể hiện ý chí tự nguyện của các bên trên cơ sở nhu cầu, kế hoạch phát triển kinh doanh của doanh nghiệp; nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức hợp đồng đảm bảo các điều kiện theo quy định pháp luật. Do đó, Hợp đồng cho thuê tài chính số 107/2007/ALC1 ngày 25/7/2007 được ký kết giữa ALCI - Công ty T1 và các văn bản bộ phận kèm theo đều hợp pháp, các bên đã tham gia ký kết đều phải có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện.

[2.2] Xét tư cách pháp nhân, quyền và nghĩa vụ của Công ty TNHH T1.

Công ty T1 VT đều là các pháp nhân có đăng ký kinh doanh được cơ quan có thẩm quyền công nhận và cấp phép. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì đã xác minh hoạt động của Công ty TNHH T1 đúng theo quy định pháp luật.

Mặc dù người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T1Nguyễn Thụy V có cung cấp lời khai đã làm thủ tục tạm ngừng kinh doanh và làm thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế theo Thông báo số 3163 TB/CT-KK&KTT ngày 30/9/2013 về đơn bị ngừng hoạt động và đang làm thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Tuy nhiên, tại thời điểm xác minh ngày 29/02/2024, Sở kế hoạch và đầu tư UBND tỉnh P cung cấp “Công ty TNHH T1 VT, Mã số doanh nghiệp: 2600364838 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu ngày 09/10/2006, thay đổi lần thứ 4 ngày 16/9/2013; Địa chỉ: Lô C, khu công nghiệp T, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Vốn điều lệ: 14.500.000.000 đồng; Người đại diện pháp luật: bà Nguyễn Thụy V; chức danh: Giám đốc. Đến ngày 28/02/2024, tình trạng pháp lý của doanh nghiệp: Đang hoạt động”

Căn cứ tại thời điểm bà V cung cấp đã làm thủ tục tạm ngừng và thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, Công ty TNHH T1 phải nộp đủ số thuế còn nợ, tiếp tục thanh toán các khoản nợ, hoàn thành việc thực hiện hợp đồng đã ký với khách hàng và người lao động, trừ trường hợp doanh nghiệp chủ nợ, khách hàng và người lao động có thoả thuận khác. Đồng thời, Công ty TNHH T1 chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.

Chính vì vậy, Công ty TNHH T1 có nghĩa vụ phải thực hiện thanh toán khoản nợ theo Hợp đồng cho thuê tài chính số 107/2007/ALC1 ngày 25/7/2007 được ký kết giữa ALCI - Công ty T1 và các văn bản bộ phận kèm theo kể cả khi đang thực hiện thủ tục tạm ngừng kinh doanh và giải thể doanh nghiệp.

Ngoài ra, người đại diện theo pháp luật của Công ty T1 cho rằng đã nghỉ việc và thôi làm Giám đốc cung như người đại diện theo pháp luật cho Công ty nhưng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh và chưa đăng ký thủ tục tại Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh P nên không có căn cứ để xem xét.

[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc Công ty T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ALCI .

Theo thỏa thuận tại Điều 4 Hợp đồng cho thuê tài chính số 107/2007/ALC1 ngày 25/7/2007 và bảng tính tiền thuê tài chính; kế hoạch trả lãi tồn đọng đính kèm hợp đồng phụ lục số 04B/ALCI, số 4E/ALCI mà ALCI đã ký với Công ty T1, dư nợ cho thuê là 5.251.005.549đ, thời hạn thuê được tính từ ngày 28/8/2007. Theo kế hoạch trả nợ, số tiền gốc kỳ đầu tiên là 187.535.913 đồng; các kỳ tiếp theo (mỗi kỳ = 90 ngày) Công ty T1 phải trả cho ALCI là 187.535.913 đồng, lãi suất tính tại thời điểm nhận nợ là 1,15%/tháng tức 3,49%/quý, điều chỉnh vào tháng 1 hàng năm tiếp theo căn cứ vào lãi suất huy động đầu vào, điều chỉnh lại lãi suất cho thuê đối với 12 tháng tiếp theo với nguyên tắc: Lãi suất cho thuê mới = Lãi suất huy động đầu vào (Lãi vay NHNo &PTNT Việt Nam) +(cộng) 0,3%/tháng. Khi lãi suất thay đổi, ALCI thông báo trước bằng văn bản để thực hiện. Trường hợp phát sinh nợ quá hạn, lãi phạt quá hạn bằng 150% lãi suất cho thuê trong hạn. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T1 VT không thực hiện được nghĩa vụ trả tiền gốc và tiền lãi theo Hợp đồng cho thuê tài chính.

Sau khi xử lý tài sản cho thuê, chỉ đủ thanh toán toàn bộ tiền gốc và 1 phần lãi trong hạn nên Công ty T1 vẫn còn nợ tiền lãi của ALCI. Tính đến ngày 10/01/2012, Công ty T1 còn phải thanh toán cho ALCI tổng tiền lãi còn lại là 4.182.319.945 đồng trong đó: Lãi trong hạn: 1.872.472.444 đồng; Lãi quá hạn: 1.119.206.115 đồng và lãi tồn đọng từ Công ty X: 1.190.641.386 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành công khai chứng cứ do các đương sự giao nộp, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp và Toà án đã thu thập. Do vậy hoàn toàn có căn cứ xác định đến hết ngày 10/01/2012, Công ty T1 còn nợ của ALCI là 4.182.319.945 đồng trong đó: Lãi trong hạn: 1.872.472.444 đồng; Lãi quá hạn: 1.119.206.115 đồng và lãi tồn đọng từ Công ty X: 1.190.641.386 đồng. Người đại diện hợp pháp của Công ty T1 cho rằng từ khi làm người đại diện theo pháp luật của Công ty T1 không biết khoản nợ này nhưng lại giao nộp cho Toà án Bản photo Văn bản số 192/ALCI-KD ngày 27/02/2012 của ALCI V/v: công nợ còn lại của HĐCTTC số 107/2007/ALCI ngày 25/7/2007 với nội dung hoạch toán số tiền bán tài sản cho thuê và số tiền tính đến ngày 10/01/2012, Công ty T1 còn phải trả cho ALCI và Công ty T1 không giao nộp được các tài liệu, chứng cứ về việc trả số tiền trên. Vì vậy, ALCI khởi kiện yêu cầu Công ty T1 VT trả số tiền trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận

[2.4]. Đối với yêu cầu Tòa án tuyên trong bản án nội dung “Trường hợp Công ty TNHH T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì ALCI có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty TNHH T1 VT để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật”. Xét thấy: Tại hợp đồng cho thuê tài chính và các phụ lục hợp đồng, các biên bản thỏa thuận, biên bản làm việc giữa ALCI và Công ty T1 không thỏa thuận về việc thế chấp, cầm cố tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, không thoả thuận về tài sản đảm bảo mà chỉ có cam kết về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ (nợ gốc, nợ lãi). Quá trình giải quyết vụ án, ALCI không đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Công ty T1 không thể hiện quan điểm đối với yêu cầu này của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu tuyên trong bản án nội dung nêu trên của ALCI không thuộc thoả thuận của các bên, không được bị đơn chấp nhận nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả tiền thuê tài chính được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án là 112.000.000đồng + 0,1% x 182.319.945 đồng = 112.182.319 đồng

Nguyên đơn không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 30, điểm b khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 1 điều 147, khoản 1 điều 228, điều 271 và khoản 1 điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cử vào điều 91, điều 95, khoản 4 điều 112, điều 113 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ vào điều 280, điều 463, điều 466, khoản 1 điều 688 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Điều 156, khoản 2 Điều 157 Luật Doanh nghiệp 2005

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty C - Ngân hàng C đối với Công ty TNHH T1 về việc tranh chấp Hợp đồng cho thuê tài chính số 107/2007/ALC1 ngày 25/7/2007.

    Buộc Công ty TNHH T1 phải thanh toán cho Công ty C - Ngân hàng C tổng số tiền là 4.182.319.945 đồng (Bốn tỷ một trăm tám mươi hai triệu ba trăm mười chín nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng) trong đó bao gồm: Lãi trong hạn: 1.872.472.444 đồng; Lãi quá hạn: 1.119.206.115 đồng và lãi tồn đọng từ Công ty cổ phần X: 1.190.641.386 đồng.

  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C - Ngân hàng C về yêu cầu tuyên trong bản án nếu Công ty TNHH T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật thì Công ty C - Ngân hàng C có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty TNHH T1 VT để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
  3. Về án phí:

    Buộc Công ty TNHH T1 phải chịu 112.182.319 đồng (Một trăm mười hai triệu một trăm tám mươi hai nghìn ba trăm mười chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn lại cho Công ty C số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 56.090.000đ (Năm mươi sáu triệu không trăm chín mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà số 0005579 ngày 16/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Việt Trì;
  • - Chi cục THADS thành phố Việt Trì;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Hà Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/KDTM-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính

  • Số bản án: 05/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty cho thuê tài chính N khởi kiện công ty VT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger