TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 05/2024/ST-KDTM Ngày 15 - 5 - 2024 V/v T.chấp hợp đồng mua bán hàng hóa | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Huy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phùng Hải Thủy;
- Bà Võ Thị Trúc Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chi- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Khánh Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (địa chỉ: Số D-L, thành phố Đ), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 02/2024/TLST-KDTM ngày 30/01/2024 về việc: "Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-KDTM ngày 15/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QĐST-KDTM ngày 23/4/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T;
Trụ sở đóng tại: Khu phố G, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Bà Phạm Vũ H- Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Viết H1- Nhân viên Phòng Kinh doanh, Công ty Cổ phần T (Văn bản ủy quyền số 328/UQ-CT ngày 14/12/2023), có mặt.
2. Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn X;
Trụ sở đóng tại: Thôn C, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Lê Ú- Tổng Giám đốc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
[I] Theo đơn khởi kiện và ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Công ty Cổ phần T (Công ty T), trình bày:
Ngày 24/11/2021, Công ty T- Chi nhánh Xí nghiệp X1 (Viết tắt là: Công ty T) với Công ty trách nhiệm hữu hạn X (Viết tắt là: Công ty X) ký kết Hợp đồng Kinh tế số 49/2021/HĐKT-BTTP (Viết tắt là: Hợp đồng số 49) về việc: Công ty T cung cấp (Bán) bê tông thương phẩm cho Công ty X để thi công ở các công trình trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Thực hiện hợp đồng, Công ty T đã cung cấp đúng, đủ bê tông thương phẩm theo yêu cầu của Công ty X. Tổng trị giá hàng hóa (Bê tông thương thẩm) Công ty T giao cho Công ty X, là 620.644.726 đồng và Công ty X đã thanh toán tiền hàng cho Công ty T, với tổng số tiền 572.650.726 đồng; tiền hàng còn lại Công ty X phải thanh toán cho Công ty T là: 47.994.000 đồng.
Theo như cam kết tại Hợp đồng, Công ty X chuyển tiền tạm ứng 30% giá trị hợp đồng cho Công ty T sau khi ký hợp đồng. Sau khi cấp hết giá trị tạm ứng thì Công ty X chuyển tiếp tiền tạm ứng. Tuy nhiên, trong quá trình thi công, phát sinh khối lượng tương ứng với số tiền là 47.994.000 đồng. Sau khi thi công xong công trình, vào ngày cuối cùng của tháng, hai bên thực hiện việc đối chiếu khối lượng và chốt Biên bản nghiệm thu thanh toán kiêm biên bản đối chiếu công nợ vào ngày 30/11/2022 (Viết tắt là: Biên bản nghiệm thu, đối chiếu công nợ ngày 30/11/2022), với số tiền là: 47.994.000 đồng.
Đã nhiều lần, Công ty T yêu cầu Công ty X thực hiện việc thanh toán công nợ như đã cam kết nhưng Công ty X vẫn không thực hiện.
Công ty T khởi kiện Công ty X, với yêu cầu: Buộc Công ty X phải trả nợ tiền hàng cho Công ty T, với tổng số tiền 47.994.000 đồng.
* Tại phiên tòa:
- - Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ;
- - Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tiến hành xét xử vụ án trong trường hợp vắng mặt bị đơn;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T;
Khi bản án có hiệu lực và có đơn yêu cầu thi hành án thì Công ty X phải trả thêm tiền chậm thi hành với mức lãi suất 10%/năm trên số tiền hàng chậm thanh toán.
[II] Bị đơn là Công ty X.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng cho Công ty X nhưng Công ty X không giao nộp văn bản trình bày ý kiến, 02 lần vắng mặt tại phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa.
[III] Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
(1) Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, thụ lý vụ án theo yêu cầu khởi kiện của Công ty T; xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án; xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
(2) Về nội dung vụ án:
- - Công ty X đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền được xác định tại Hợp đồng số 49 và Biên bản nghiệm thu, đối chiếu công nợ ngày 30/11/2022 nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 297 của Luật Thương mại để chấp nhận toàn bộ yêu cầu (Trả nợ tiền hàng) của nguyên đơn.
- - Đối với yêu cầu trả lãi chậm thi hành: Yêu cầu của Nguyên đơn phù hợp với Điều 306 Luật Thương mại nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
(3) Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm và trả lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[I] Về tố tụng:
(1) Quan hệ pháp luật tranh chấp và Thẩm quyền giải quyết:
Tranh chấp giữa Công ty T với Công ty X, phát sinh từ Hợp đồng số 49 và Biên bản nghiệm thu, đối chiếu công nợ ngày 30/11/2022. Tại Điều 7 của Hợp đồng số 49, các bên có thỏa thuận: “Trường hợp có vướng mắc hai bên không tự xử lý được hoặc bên A (Công ty X) vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì thống nhất chọn Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, giải quyết”, thấy: Từ thời điểm ký kết Hợp đồng số 49 (Ngày 24/11/2021) đến nay, Công ty T có trụ sở đóng tại Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định: Quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” và Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
(2) Xét xử vắng mặt bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thủ tục phiên tòa cho bị đơn (Công ty X) theo đúng quy định của pháp luật đến lần thứ hai nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt bị đơn.
(3) Giới hạn xét xử:
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ; Bị đơn (Công ty X) không giao nộp văn bản trình bày ý kiến cũng như tài liệu, chứng cứ, 02 lần vắng mặt tại phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải; vắng mặt lần thứ 02 tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa để xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[II] Về nội dung:
(1) Xem xét Hợp đồng số 49 cũng như Biên bản nghiệm thu, đối chiếu công nợ ngày 30/11/2022, thấy:
- - Hợp đồng số 49 đã đảm bảo về mặt hình thức, nội dung cũng chủ thể tham ký kết hợp; nội dung các bên thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức, xã hội nên đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tại thời điểm hợp đồng được ký kết (Ngày 24/11/2021)
- - Biên bản nghiệm thu, đối chiếu công nợ ngày 30/11/2022, được đại diện hợp pháp hai bên (Công ty T và Công ty X), ký xác nhận. Biên bản nội dung: “Bên mua (Công ty X) còn nợ bên bán (Công ty T) số tiền 47.994.000 đồng”.
Trị giá tiền hàng 47.994.000 đồng, Công ty X còn phải trả cho Công ty T, là khối lượng phát sinh sau khi Công ty T đã giao đủ hàng theo giá trị tạm ứng nhưng đã được hai bên nghiệm thu, đối chiếu và xác nhận nên Công ty X phải có nghĩa vụ trả nợ tiền hàng cho Công ty T.
- Công ty T đã xuất đầy đủ hóa đơn VAT đối với khối lượng hàng đã giao cho Công ty X (Bút lục số 01-12).
Như vậy, nghĩa vụ trả nợ tiền hàng của Công ty X đối với Công ty T được xác định tại Biên bản nghiệm thu, đối chiếu công nợ ngày 30/11/2022. Do Công ty X không tự thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền hàng nên cần căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 297 Luật Thương mại 2005 để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T.
(2) Đối với yêu cầu trả lãi chậm thi hành, thấy: Yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với Điều 306 Luật Thương mại nên cần chấp nhận.
[III] Về án phí:
- - Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên trả lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp cho nguyên đơn.
- - Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự,
- Khoản 1, khoản 5 Điều 297 và Điều 306 Luật Thương mại;
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần T.
1. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn X phải trả nợ tiền hàng còn lại cho Công ty Cổ phần T theo Hợp đồng Kinh tế số 49/2021/HĐKT-BTTP ngày 24/11/2021 và Biên bản nghiệm thu thanh toán kiêm biên bản đối chiếu công nợ vào ngày 30/11/2022, với tổng số tiền: 47.994.000 đồng (bốn mươi bảy triệu, chín trăm chín mươi bốn ngàn đồng chẳn)
Kể từ ngày Công ty Cổ phần T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty trách nhiệm hữu hạn X chậm thi hành khoản tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải còn phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng với số tiền chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành án là 10%/năm.
2. Về án phí:
- - Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn X phải chịu 3.000.000 đồng (ba triệu đồng chẳn) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- - Trả lại cho Công ty Cổ phần T toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp, là: 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng chẳn) theo Biên lai thu số 0000173 ngày 26/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
* Quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 12 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án. Quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Huy |
Bản án số 05/2024/ST-KDTM ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 05/2024/ST-KDTM
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp dồng mua bán hàng hóa
