Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH YÊN BÁI

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày 11-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Lợi

Bà Vương Thị Thoan

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Hà Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 12-02-1974 tại huyện V, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1939; có vợ là Lường Thị B, sinh năm 1977 và 06 con (lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền sự: Không; Tiền án: 02

Ngày 28-9-2020 bị Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 19/2020/HSST);

Ngày 19-02-2021 bị Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 03/2021/HSST). Tổng hợp hình phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 19/HSST ngày 28-9-2020 của Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái, buộc Nguyễn Văn N phải

1

chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 02 năm tù. Nguyễn Văn N đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của 02 bản án nêu trên.

Nhân thân:

Ngày 11-3-1998, bị Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 09/HSST ngày 11-03-1998.

Ngày 21-8-2014, bị Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 38/HS-ST ngày 21-8-2014.

Ngày 22-6-2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 22/2017/HSST ngày 22-6-2017.

Bị bắt, tạm giữ ngày 25-12-2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Y; có mặt.

2. Hoàng Văn T2 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 14-02-1973 tại thị xã N, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Văn N1 (đã chết) và bà Hà Thị Ổ, sinh năm 1940; có vợ là Đinh Thị H, sinh năm 1972 và 02 con (lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1998); tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 28-9-2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt 03 năm tù theo Bản án số 26/2017/HSST ngày 28-9-2017 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị bắt, tạm giữ ngày 25-12-2023, hiện bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Y; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N: Bà Phan Thị Kim T3 – Trợ giúp viên pháp lý của Chi nhánh Trợ giúp pháp lý số 1, Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh Y. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T2: Luật sư Phạm Q – Đoàn luật sư tỉnh Y. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đinh Thị H, sinh năm 1972. Có mặt.

Nơi cư trú: Thôn P, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

2

Nguyễn Văn NHoàng Văn T2 là đối tượng nghiện chất ma túy, với mục đích lợi nhuận, nên các bị cáo đã mua ma túy để bán kiếm lời cụ thể như sau:

Vào khoảng rằm tháng 7/2023, Hoàng Văn T2 đang ở nhà thì có một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi đi đến nhà xin nước uống (T2 gặp lần đầu). Người này không nói tên, chỉ giới thiệu là người ở làng T, xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái và nói cho T2 biết có ma túy heroine bán, nếu có ai mua thì bảo anh ta, cứ bán được 01 cây heroine thì người này sẽ cho T2 1.000.000đồng. T2 đồng ý, sau đó T2 và người này cho nhau số điện thoại (Tuyên lưu số điện thoại của người này là: 0919.117.946).

Ngày 15-12-2023, trong một lần đi ăn cưới, Năm gặp T2 và hỏi T2 có biết ai bán heroine không? T2 trả lời trước đây có "thằng M" có ma túy bán, để T2 hỏi lại. Sau đó NT2 cho nhau số điện thoại.

Khoảng 21 giờ ngày 24-12-2023, có một người đàn ông tên là T4 gọi điện cho N hỏi mua 02 cây heroine, N đồng ý và bảo sẽ gọi lại cho T4 sau. Đồng thời, N gọi điện cho T2 và nói có người hỏi mua 02 cây heroine, T2 có ma túy bán không? T2 bảo có và bán với giá 26.000.000đồng/01 cây. Năm và T2 thống nhất ngày 25-12-2023 sẽ gặp nhau tại khu vực mương nước thuộc thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái để mua bán heroine. Sau đó, N gọi điện cho T4 nói đã có ma túy bán với giá 26.000.000 đồng/01 cây và cũng hẹn T4 gặp nhau tại khu vực mương nước thuộc thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái để mua bán heroine.

Như đã hẹn khoảng 12 giờ ngày 25-12-2023, T2 gặp người người đàn ông dân tộc Mông bán heroine cho T2 cách thôn N, xã N, V khoảng 200-300m. Người này cho T2 biết heroine đang được giấu trong đống cỏ gần đó. Khi T2 lấy được gói 02 cây heroine và người đàn ông này bảo T2 cứ đem đi bán, anh ta đứng chờ để lấy tiền. Sau đó, T2 đem gói heroine đến địa điểm đã thống nhất để đưa cho N. Ra đến nơi thấy N và hai người đàn ông đang đứng gần Năm. T2 đưa gói heroine cho Năm, khi cả 4 người đang trao đổi mua bán ma túy, thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, còn T4 và người đàn ông cùng đi chạy thoát. Thu giữ dưới chân Năm 01 gói ni lon màu trắng, bên trong có chứa nhiều cục chất bột nén nghi là Heroine và tại túi áo khoác bên trái của Năm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, bàn phím bấm. Thu giữ của Hoàng Văn T2: Tại túi áo ngực bên phải 01 ví giả da màu đen; 01 thẻ căn cước công dân; 01 giấy phép lái xe; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô đều mang tên Hoàng Văn T2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh màn hình cảm ứng và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu sơn trắng đen, biển kiểm soát: 21K1- 232.43.

3

Tại bản Kết luận giám định số 710/KL- KTHS ngày 01-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận: Chất bột nén mầu trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn NHoàng Văn T2 có khối lượng 96,18 gam là ma túy; loại Heroine. Heroine nằm trong danh mục I, STT:9, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ (BL 23);

Tại bản cáo trạng số: 35/CT-VKSYB-P1 ngày 13-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo Nguyễn Văn NHoàng Văn T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn NHoàng Văn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    • 2.1. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N từ 18 năm đến 19 năm tù.
    • 2.2. Áp dụng điểm b khoản 3; khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T2 từ 17 đến 18 năm tù.
    • - Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Hoàng Văn T2 số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
  3. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu, tiêu hủy: 95 gam Heroin (còn lại sau khi giám định) và 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong, ni lon gói.

    Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu trắng đen, biển kiểm soát: 21K1- 232.43 xe cũ đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn T2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, bàn phím bấm và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen.

    Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T2: 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng; 01 thẻ căn cước công dân số [...]; 01 giấy phép lái xe và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh màn hình cảm ứng.

4

  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.

    Bị Nguyễn Văn N được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Hoàng Văn T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

* Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N: Nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, xem xét bị cáo là người sinh ra trong gia đình khó khăn, không được đi học, nhận thức pháp luật kém, mức thu nhập từ làm ruộng nên kinh tế khó khăn; chưa được hưởng lợi nhuận từ việc bán ma túy, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N từ 18 năm đến 18 năm 06 tháng tù; do bị cáo N là hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí cho bị cáo.

* Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T2: Nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người dân tộc, trình độ văn hóa còn hạn chế; bị cáo thành khẩn khai báo; có bố đẻ được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T2 với mức án thấp nhất, để bị cáo có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đinh Thị H đề nghị xin lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS màu sơn trắng đen, biển kiểm soát: 21K1- 232.43, vì đây là tài sản chung của bà và bị cáo T2.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội

Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Y, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái; của Điều tra viên và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu

5

nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét chỗ ở cùng vật chứng thu giữ; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Với mục đích lợi nhuận Nguyễn Văn NHoàng Văn T2 đã thỏa thuận cùng nhau bán H1. Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 25-12-2023, tại khu vực mương nước thuộc thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái. Hoàng Văn T2 mua của một người dân tộc Mông (không rõ tên và địa chỉ) 02 cây Heroin với giá 50.000.000 đồng và thỏa thuận sau khi bán được ma túy sẽ trả tiền. Sau đó, T2 đưa gói ma túy cho N để bán cho người đàn ông tên T4 và người đàn ông đi cùng T4 (không rõ tên và địa chỉ) với giá 52.000.000 đồng, trong lúc hai bên đang trao đổi mua bán thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, Hoàng Văn T2 là người liên hệ mua ma túy về để bán, Nguyễn Văn N là người liên hệ trực tiếp với người mua H1 và liên lạc với T2 để có ma túy bán. Nên các bị cáo đều là người thực hành.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Văn NHoàng Văn T2 có nhân thân xấu, đều đã bị kết án nhưng khi trở về địa phương không chịu rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục vi phạm pháp luật.

[4.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hoàng Văn T2 không có tình tiết tăng nặng; bị cáo Nguyễn Văn N có 02 tiền án (chưa được xóa án tích), nay lại phạm tội do lỗi cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo T2 có bố đẻ được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, các bị cáo mua bán trái phép lượng

6

ma túy lớn, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Nên cần phải được xử lý nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, đặc biệt để cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để đảm bảo tính răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh, phòng chống loại tội phạm về ma tuý.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo Nguyễn Văn N là hộ nghèo, chưa thu lợi từ việc mua bán ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Bị cáo Hoàng Văn T2 có tài sản, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[7] Đối với người bán ma túy và những người mua ma túy của các bị cáo. Năm và T2 đều không biết cụ thể họ tên, tuổi, địa chỉ của những người này. Nên không có cơ sở xác minh, làm rõ để xử lý.

[8] Về việc xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

Đối với 95 gam Heroine còn lại (sau khi đã trích 1,18 gam lấy mẫu giám định) được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong vật chứng có 04 (bốn) hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Y; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong, ni lon gói. Xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc xe mô tô loại YAMAHA SIRIUS màu sơn trắng đen, biển kiểm soát: 21K1- 232.43; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn T2 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bàn phím bấm thu giữ của bị cáo T2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, bàn phím bấm thu giữ của bị cáo N. Xét thấy, có liên quan đến việc phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 thẻ căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe đều mang tên Hoàng Văn T2; 01 ví giả da màu đen; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh màn hình cảm ứng bên trong có gắn 01 thẻ sim số thuê bao 0827.303.282. Xét thấy, không liên quan đến việc phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo T2.

[9] Về án phí: Bị cáo N là hộ nghèo nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo T2 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

7

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn NHoàng Văn T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    • 2.1. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 19 (mười chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25-12-2023.
    • 2.2. Áp dụng điểm b khoản 3; khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T2 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25-12-2023.

    Phạt bị cáo Hoàng Văn T2 số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

  3. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu, tiêu hủy: 95 gam Heroin (còn lại sau khi giám định) được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong vật chứng có 04 (bốn) hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Y; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong, ni lon gói.

    Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius màu trắng đen, biển kiểm soát: 21K1- 232.43 xe cũ đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Hoàng Văn T2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, bàn phím bấm bên trong có gắn 1 thẻ sim có số thuê bao 0383542118 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bàn phím bấm bên trong có gắn 01 thẻ sim số thuê bao 0346.380.476.

    Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T2: 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng; 01 thẻ căn cước công dân số [...]; 01 giấy phép lái xe và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme màu xanh màn hình cảm ứng, bên trong có gắn 01 thẻ sim số thuê bao 0827.303.282.

    (Toàn bộ số vật chứng và tài sản thu giữ nêu trên có đặc điểm được mô tả tại biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y và Cục thi hành án dân sự tỉnh Yên Bái).

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí.

    Bị cáo Nguyễn Văn N được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Hoàng Văn T2 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

8

  1. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1- TANDTC;
  • - VKSNDCC tại HN;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Yên Bái;
  • - Phòng HSNV CA tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - Cục THADS tỉnh Yên Bái;
  • - Trại tạm giam; Bị cáo;
  • - Người bào chữa; Người CQLLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; HCTP; THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thu Hương

9

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN -CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đỗ Thu Hương

10

11

12

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Khánh V kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger