|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2024/HS-ST Ngày: 11 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Chính Nghĩa.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Chiến
- Bà Mai Tường Vi.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Huệ -Thư ký tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 01 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 181/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2023/QĐXXST- HS ngày 27 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
*Họ và tên: Vũ Bách T1; tên gọi khác: không; sinh ngày: 25/8/19xx, tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ x, khu T3, phường S1, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Vũ Bách T2và bà: Nguyễn Thị M1; có vợ: Đào Từ L1, sinh năm 1991; có 02 con: con lớn sinh năm 2xxxx4, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 23/4/2xxxx8, bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 24 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
Bị cáo hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh theo Lệnh tạm giam của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” - có mặt.
* Bị hại: anh Trần Mạnh T2, sinh năm 19xx; địa chỉ: tổ 2, khu Đ2, phường T5, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh - vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Nguyễn Trọng H1, sinh năm xxxx; địa chỉ: tổ x, khu x, phường Quang T1, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh - vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Chị Nguyễn Thị M1, sinh năm 19xx; địa chỉ: số nhà xxxx, tổ x, khu T3, phường S1, thành phó Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh - có mặt.
*Người làm chứng: anh Bùi Xuân T3, anh Nguyễn Xuân X1, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: do cần thuê xe ô tô để sử dụng, thông qua giới thiệu của anh Bùi Xuân T3, ngày 25/5/2023 Vũ Bách T1 đến nhà của anh Trần Mạnh T2 tại tổ x, khu Đ2, phường T5, thành phố Cẩm Phả để thuê xe ô tô tải nhãn hiệu KIA biển kiểm soát (BKS) xxxxx(trị giá 3xxxx.667.000 đồng) với giá thuê 1.000.000 đồng/ngày, thời hạn thuê 10 ngày. Anh T1 đã giao xe cùng toàn bộ giấy tờ của xe cho T1. Sau đó T1 nảy sinh ý định bán chiếc xe trên. Thông qua mạng xã hội Facebook, ngày 12/6/2023 T1 cung cấp thông tin, thuê tài khoản tên “Tài” làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe với giá 2.500.000 đồng. Ngày 15/6/2023 T1 nhận được giấy giả mang tên T1. Ngày 16/6/2023 T1 mang xe ô tô và giấy giả trên đến thành phố B1bán cho anh Nguyễn Trọng H1 với giá 200.000.000 đồng. Anh T1 sau nhiều lần đòi nhưng T1 không trả xe và tiền thuê xe nên ngày 24/7/2023 đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả trình báo. Đồng thời anh H1phát hiện đăng ký của xe bị làm giả nên ngày 06/8/2023 đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B1trình báo, giao nộp xe và giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Vũ Bách T1 và bản sao giấy mua bán xe.
Ngày 07/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả tiếp nhận xxxx giấy đăng ký xe ô tô BKS xxxxxvà xxxx giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô mang tên anh Trần Mạnh T2 do ông Vũ Bách T2bố T1 giao nộp.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 32 ngày 15/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố B1, kết luận: thời điểm ngày 25/5/2023 xe ô tô tải KIA BKS xxxxxtrị giá 3xxxx.667.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số 1310 ngày 12/9/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do anh Nguyễn Trọng H1 giao nộp là giả.
Tại phiếu xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 24/8/2023 của Công an thành phố B1cung cấp, xác định: xe ô tô tải KIA BKS xxxxxchủ sở hữu là anh Trần Mạnh T2.
Quá trình điều tra, Vũ Bách T1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra T1 còn khai: T1 chỉ cầm cố xe cho Nguyễn Trọng H1, không bán xe. Sau đó, T1 không nghe điện thoại và trốn để anh T1 không tìm thấy. Số tiền 200.000.000 đồng T1 đã ăn tiêu và mua ma túy về bán kiếm lời thì bị Công an tỉnh Quảng Ninh bắt.
* Bị hại anh Trần Mạnh T2 khai tại cơ quan điều tra như sau: tháng 3/2023, anh mua lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA THATCO FRONTIER K250 biển kiểm soát 51D - 65815 của một ngươi không quen biết tại bãi xe ô tô cũ ở thành phố Hà Nội với giá 370.000.000 đồng. Khi mua có đầy đủ thủ tục, giấy tờ mua bán xe, sau đó đén đầu tháng 4/2023, anh làm thủ tục đăng ký lại chiếc xe trên mang tên anh là Trần Mạnh T2 trên giấy đăng ký xe ô tô. Xe ô tô trên, anh phục vụ công việc chở hàng thuê. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 25/5/2023, anh Vũ Bách T1 đi cùng với anh Bùi Xuân T3 đến nhà anh và hỏi thuê chiếc xe ô tô tải trên của anh trong khoảng từ 05 đến 10 ngày để chở nội thất. Anh đồng ý và cho thuê với giá 1.000.000 đồng/1 ngày (một triệu đồng trên một ngày). Do T1 là người quen của anh nên giữa hai bên không làm hợp đồng hay viết giấy tờ liên quan đến việc thuê xe. Anh đưa cho T1 toàn bộ các giấy tờ liên quan gồm: đăng ký xe ô tô mang tên anh, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô trên (biển số đăng ký trong giấy kiểm định vẫn là biển số xxxx), bảo hiểm bắt buộc của xe ô tô, đồng thời đưa chìa khóa và bàn giao xe cho T1 trước sự chứng kiến của anh Bùi Xuân T3. Ngay lúc này, T1 chuyển khoản cho anh số tiền 1.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của T1 sang tài khoản ngân hàng của anh. T1 nói với anh: “ngày nào thanh toán tiền ngày ấy cho đỡ xót tiền”, anh đồng ý. Sau đó, T1 điều khiển xe ô tô đi đâu thì anh không rõ. Nhiều ngày sau đó, anh không thấy T1 trả tiền thuê xe ô tô cho anh. Anh gọi điện cho T1 nhiều lần để đòi nợ thì đến ngày 25/6/2023, T1 chuyển khoản cho anh số tiền 5.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của T1 sang tài khoản ngân hàng của anh. Đến ngày 27/6/2023, T1 tiếp tục chuyển khoản cho anh số tiền 10.000.000 đồng và gửi anh Bùi Xuân T3 để đưa cho anh số tiền 5.000.000 đồng. Sau đó một thời gian, thấy việc T1 thanh toán tiền không sòng phẳng và đúng hẹn nên anh yêu cầu T1 mang xe ô tô về trả cho anh. Tuy nhiên, T1 đưa ra nhiều lý do khác nhau để kéo dài thời gian và không trả lại xe ô tô cho anh. Do vậy, anh đã làm đơn trình báo cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả để giải quyết. Đến nay, khi biết T1 làm giả giấy đăng ký xe ô tô của anh thành tên của T1 và lừa người khác ở thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh và bán lại xe cho người này. Người mua xe nghi ngờ giấy tờ giả nên đã trình báo cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B1 và giao nộp giấy tờ xe và chiếc xe ô tô của anh cho Công an. Anh Trần Mạnh T2 đã nhận lại xe ô tô biển kiểm soát 14C - xxx.xx, không yêu cầu bồi thường thêm và đề nghị xử lý nghiêm hành vi chiếm đoạt tài sản của Vũ Bách T1.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trọng H1 có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: do có nhu cầu mua một chiếc xe ô tô tải để phục vụ vào mục đích chở hàng nên anh nhờ anh Nguyễn Xuân X1 tìm giúp xem có ai bán ô tô tải không thì bảo anh. Đến khoảng ngày 10/6/2023, thì anh X1nói với anh là đã tìm được người bán xe ô tô là Vũ Bách T1. Nghe vậy, anh đồng ý và bảo anh X1hẹn T1 đến thành phố B1để xem xe, nếu giá cả hợp lý thì sẽ mua. Khoảng chiều ngày 16/6/2023, anh với anh X1đang đi cùng nhau, anh X1nghe một cuộc điện thoại xong nói với anh, T1 đã mang chiếc xe đến thành phố B1và bảo anh có đi xem xe luôn không, anh đồng ý. Sau đó, anh với anh X1đến quán nước thuộc khu 8, phường Quang T1, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh gặp T1. Tại đây, T1 cho anh và Xanh xem chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA THACO K250, biển kiểm soát xxxxxùng với giấy đăng ký xe ô tô trên mang tên chủ sở hữu là Vũ Bách T1. T1 cho anh xem tiếp căn cước công dân của T1 thì anh và anh X1đối chiếu với giấy đăng ký xe ô tô trên thông tin về T1 trùng khớp. T1 đưa tiếp giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô trên. Anh hỏi thì T1 bảo giấy đăng kiểm chưa đi làm lại. Kiểm tra xong giấy tờ, anh và anh X1kiểm tra tình trạng chiếc xe và thấy biển số xe trùng khớp với giấy tờ T1 cho anh xem. Anh nghĩ đúng là xe của T1 nên anh đồng ý mua chiếc xe. T1 nói muốn bán chiếc xe với giá 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng, anh thấy hợp lý nên anh đồng ý mua chiếc xe với giá 200.000.000 đồng. Sau đó T1 viết giấy bán chiếc xe trên cho anh và điểm chỉ vào giấy bán xe. Do không mang đủ tiền nên anh đã đưa cho anh X1số tiền 6.100.000 đồng (sáu triệu một trăm nghìn) đồng để anh X1đưa cho T1. Số tiền còn lại 193.900.000 đồng, anh nhờ anh X1chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng của anh X1sang số tài khoản của Vũ Bách T1. Sau đó anh và T1 bàn giao xe và toàn bộ số giấy tờ liên quan đến chiếc xe ô tô trên và phô tô căn cước công dân của T1 cho anh. Anh mang chiếc xe về phục vụ cho công việc làm ăn, kinh doanh của gia đình. Đến ngày 25/7/2023, anh mang xe ô tô đến gara ô tô kiểm tra chất lượng xe để phục vụ vào việc đi đăng kiểm chiếc xe. Khi xem lại giấy tờ đăng ký xe, nghi là giấy tờ giả nên anh gọi điện cho T1 để làm rõ sự việc nhưng không liên lạc được với T1. Do nghi ngờ T1 làm giấy tờ giả để bán chiếc xe ô tô cho anh nên anh đã đến cơ quan Công an để trình báo sự việc.
* Người làm chứng Bùi Xuân T3 có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: khoảng 16 giờ ngày 25/5/2023, anh đang chở T1 từ thành phố Hạ Long về thành phố Cẩm Phả thì T1 nói đang cần xe để chở hàng, nhờ anh hỏi hộ xem có chỗ nào thuê xe không thì hỏi hộ T1. Đến 17 giờ cùng ngày, anh liên lạc với Trần Mạnh T2 nói “có bạn là T1 muốn thuê một chiếc xe để chở hàng”, anh T1 đồng ý. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, anh chở T1 đến nhà T1. T1 gặp T1 và nói chuyện. Anh có nghe được là T1 thỏa thuận với T1 cho T1 thuê xe khoảng 10 ngày với giá 1.000.000 đồng/1 ngày. T1 nói thuê chiếc xe đó để chở hàng, hai người thỏa thuận xong thì anh thấy T1 giao chiếc xe tải nhãn hiệu KIA, biển biểm soát xxxxcùng với giấy tờ đăng ký xe và giấy đăng kiểm xe cho T1. Sau khi giao thì T1 mang xe cùng với giấy tờ xe đi về. Việc T1 trả tiền thuê xe cho T1 cụ thể thế nào thì anh không rõ. Anh chỉ rõ một lần T1 trả cho T1 5.000.000 đồng vào khoảng tháng 6/2023 vì hôm đó, T1 gặp anh tại thành phố Hạ Long và đưa cho anh số tiền 5.000.000 đồng nhờ anh chuyển cho T1 và anh đã chuyển đủ cho T1. Anh chỉ giúp T1 chứ không hưởng lợi gì.
* Người làm chứng Nguyễn Xuân X1 có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: Khoảng ngày 10/6/2023, anh Nguyễn Trọng H1 là bạn của anh nhờ anh tìm giúp mua chiếc xe ô tô tải để chở hàng. Đến khoảng ngày 13/6/2023 thì Vũ Bách T1 gọi điện cho anh nói T1 có một chiếc xe ô tô tải muốn bán xem tìm giúp có ai mua không, anh đồng ý vì trước đây anh đã từng giúp T1 bán được một số mặt hàng. Sau đó anh nói với anh H1đã tìm được người bán ô tô tải và anh Hlđồng ý mua. Chiều ngày 16/6/2023, anh với anh H1đang đi cùng nhau thì T1 gọi điện cho anh nói đã mang xe đến thành phố Uông Bí, bảo anh đưa người muốn mua xe đến xem xe nên anh với anh H1đi đến quán nước thuộc khu 8, phường Quang T1, thành phố B1gặp T1. Tại đây, T1 cho anh và anh Hlxem chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu KIA THACO K250 biển kiểm soát xxxxxvà T1 cho anh và anh H1xem giấy đăng ký xe ô tô trên mang tên đăng ký chủ xe là Vũ Bách T1. Anh chụp căn cước công dân của T1. Sau đó, anh và anh Hlkiểm tra tình trạng của chiếc xe ô tô tải trên và xem giấy đăng ký xe ô tô trên đối chiếu với căn cước công dân của T1 thì thấy thông tin về T1 trùng khớp với thông tin của T1 trên giấy đăng ký xe ô tô trên nên anh và anh H1tin đó là chiếc xe của T1. Khi kiểm tra xong, T1 nói với anh H1muốn bán chiếc xe ô tô đó với giá 200.000.000 đồng, anh Hlđồng ý. Lúc này, T1 chủ động viết giấy bán xe đó cho anh H1với giá 200.000.000 đồng và ký tên, điểm chỉ vào giấy bán xe. Sau khi viết giấy xong, anh H1đưa cho anh 6.100.000 đồng và anh đưa số tiền đó cho T1. Do không đủ tiền nên anh H1nhờ anh chuyển khoản cho T1 số tiền 193.900.000 đồng, anh đồng ý và anh chuyển khoản từ số tài khoản của anh mang tên Nguyễn Xuân X1 sang số tài khoản ngân hàng của T1 mang tên Vũ Bách T1. Lúc này, T1 kiểm tra thì đã nhận đủ số tiền 193.900.000 đồng thì đã giao xe ô tô tải cùng giấy đăng ký xe ô tô trên, giấy chứng nhận kiểm định và bản phô tô căn cước công dân của T1 cho anh H1. Sau khi nhận giấy tờ và xe thì anh H1điều khiển xe ô tô về nhà. Sau đó, anh H1sử dụng xe ô tô vào mục đích gì thì anh không biết. Khi về đến nhà, anh H1đã trả đủ cho anh số tiền 193.900.000 đồng. Việc anh H1mua xe, anh không được lợi nhuận gì và không có việc T1 chuyển lại cho anh số tiền 9.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số 182/CT - VKSCP ngày 10/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Vũ Bách T1 về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội: “ Làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 và điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đưa ra những chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Bách T1 từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù đến 06 (sáu) năm tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Bách T1 từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “ Làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt: buộc bị cáo Vũ Bách T1 phải chấp hành hình chung từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giữ 30/7/2023.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại Cơ quan điều tra và phiên toà bị cáo Vũ Bách T1 khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm pháp luật như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đã truy tố.
Bị cáo thừa nhận việc bị khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử là đúng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với đơn trình báo và lời khai của bị hại là anh Trần Mạnh T2 về hành vi thuê xe ô tô nhãn hiệu KIA THACO K250 biển kiểm soát xxxxx; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Trọng Hướng về hành vi sử dụng giấy đăng ký xe ô tô giả để bán xe cho anh; phù hợp với kết luận định giá tài sản số: 32/KL-HĐĐGTS ngày 15/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cẩm Phả về giá trị tài sản bị chiếm đoạt; phù hợp với Kết luận giám định số: 1310/KL-KTHS ngày 12/9/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do anh Nguyễn Trọng H1 giao nộp là giả; phù hợp với phiếu xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 24/8/2023 của Công an thành phố B1cung cấp đã xác định: xe ô tô tải nhãn hiệu KIA biển kiểm soát xxxxchủ sở hữu là anh Trần Mạnh T2; phù hợp với lời khai của người làm chứng Bùi Xuân T3 đã đưa bị cáo đến nhà bị hại để thực hiện giao dịch thuê xe ô tô; người làm chứng Nguyễn Xuân X1 đã chứng kiến và tham gia toàn bộ quá trình mua bán xe ô tô biển kiểm soát xxxxx giữa bị cáo và anh Nguyễn Trọng H1; phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: ngày 25/5/2023, tại tổ 2, khu Đ2, phường T5, thành phố Cẩm Phả, Vũ Bách T1 đã thuê xe ô tô tải nhãn hiệu KIA, BKS xxxxxtrị giá 3xxxx.667.000 đồng của anh Trần Mạnh T2, sau đó cung cấp thông tin của T1, thuê người làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô để đem bán chiếc xe trên cho anh Nguyễn Trọng H1 với giá 200.000.000 đồng.
Hành vi của Vũ Bách T1 đã phạm các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân về tài sản được pháp luật bảo vệ. Xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính mà cụ thể là hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về tài liệu, giấy tờ liên quan đến phương tiện giao thông đường bộ.
- [3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả, bồi thường đầy đủ cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
- [4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 175 và khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự.
- [5] Về trách nhiệm dân sự: gia đình bị cáo đã bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Trọng H1 số tiền 200.000.000 đồng. Anh H1không yêu cầu gì khác nên không đề cập.
- [6] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả đã trả lại cho anh T1 chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu KIA BKS xxxxxcùng giấy tờ xe. Anh T1 không yêu cầu gì khác nên không đề cập giải quyết; xxxx giấy đăng ký xe ô tô giả biển kiểm soát xxxxxmang tên Vũ Bách T1 là chứng cứ kết tội nên lưu tại hồ sơ vụ án.
- [7] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [8] Đối với tài khoản tên “Tài” trên ứng dụng mạng xã hội FaceBook chưa rõ lai lịch chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: bị cáo Vũ Bách T1 phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt: Vũ Bách T1 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: bị cáo Vũ Bách T1 phạm tội “Làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt: Vũ Bách T1 03 (ba) năm tù.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt: buộc bị cáo Vũ Bách T1 phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là: 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giữ 21/7/2023.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2xxxx6/UBTVQH 14 ngày 30/12/2xxxx6 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vũ Bách T1 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Chính Nghĩa |
Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 05/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
