|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11-01-2024 V/v xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Vẹn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Kim Huệ
- Ông Trần Văn Giang
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 294/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 633/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị V, sinh năm 1990 (xin vắng mặt).
Nơi ĐKHKTT: Ấp T, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Chỗ ở hiện nay: Xóm 3, H, xã Ng, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1982 (xin vắng mặt).
Cư trú tại: Ấp T, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13/9/2023 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bà Võ Thị V trình bày: Năm 2014 bà và ông Trần Văn Đ chung sống với nhau như vợ chồng, ngày 12/02/2014 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường hay cự cãi. Bà và ông Trần Văn Đ đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay, xét thấy sống chung không còn hạnh phúc nên bà yêu cầu ly hôn ông Trần Văn Đ. Bà và ông Trần Văn Đ có hai người con tên là Trần Thị Cẩm T, sinh ngày 01/4/2015 và Trần Thị S, sinh ngày 09/01/2009, hiện các con đang sống chung với ông Đ. Nay bà yêu cầu giao con là Trần Thị Cẩm T và Trần Thị S cho ông Đ tiếp tục nuôi dưỡng, bà cấp dưỡng nuôi hai người con, mỗi người con cấp dưỡng 1.000.000 đồng/tháng. Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Tòa án, bị đơn ông Trần Văn Đ trình bày: Ông và bà Võ Thị V kết hôn và chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2014 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Tân vào ngày 12/02/2014, quá trình chung sống ông và bà Võ Thị V không xảy ra mâu thuẫn lớn, ông có nói chuyện lớn tiếng với bà V thì bà V bỏ nhà đi vào ngày 03/9/2022 đến nay không trở về, đến nay ông cũng không liên lạc được với bà Võ Thị V. Nay do ông còn thương vợ và muốn hàn gắn với bà Võ Thị V nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị V.
Ông và bà Võ Thị V có hai người con chung là Trần Thị Cẩm T, sinh ngày 01/4/2015 và Trần Thị S, sinh ngày 09/01/2009, hiện hai người con chung đang sống với ông, do ông trực tiếp nuôi dưỡng. Nay ông đồng ý tiếp tục nuôi cả hai người con chung, ông đủ khả năng nuôi con nên không yêu cầu và không nhận cấp dưỡng nuôi con từ bà Võ Thị V. Từ khi bà V bỏ đi đến nay ông cũng không nhận được cấp dưỡng nuôi con từ bà V.
Ông và bà Võ Thị V có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Võ Thị V ly hôn ông Trần Văn Đ. Về con chung, giao người con tên là Trần Thị Cẩm T, sinh ngày 01/4/2015 và Trần Thị S, sinh ngày 09/01/2009 cho ông Trần Văn Đ tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn Đ không yêu cầu bà Võ Thị V cấp dưỡng nuôi con nên không buộc bà V cấp dưỡng theo đơn khởi kiện. Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Võ Thị V khởi kiện ông Trần Văn Đ yêu cầu ly hôn, yêu cầu giải quyết về con chung nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình, quan hệ tranh chấp về “ xin ly hôn”, bị đơn ông Trần Văn Đ cư trú tại ấp T, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Võ Thị V và ông Trần Văn Đ có yêu cầu xin vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân, bà Võ Thị V và ông Trần Văn Đ kết hôn năm 2014 và có đăng ký kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Thị V và ông Trần Văn Đ được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà Võ Thị V xác định vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, không hòa hợp, bất đồng quan điểm, nay bà yêu cầu ly hôn ông Trần Văn Đ. Ông Trần Văn Đ không đồng ý ly hôn bà Võ Thị V. Xét thấy, bà V và ông Đ đã không còn chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 9 năm 2022 đến nay mà không thể hòa giải, hàn gắn, ông Đ không đồng ý ly hôn nhưng không liên hệ hòa giải và hàn gắn với bà V. Từ đó cho thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Võ Thị V và ông Trần Văn Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận cho bà Võ Thị V ly hôn ông Trần Văn Đ là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung, bà Võ Thị V và ông Trần Văn Đ có hai người con chung là Trần Thị Cẩm T, sinh ngày 01/4/2015 và Trần Thị S, sinh ngày 09/01/2009. Bà V yêu cầu giao hai người con cho ông Đ tiếp tục nuôi dưỡng, ông Đ đồng ý nuôi dưỡng hai người con chung, đồng thời các con đều có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với ông Đ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giao hai người con chung cho ông Trần Văn Đ tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ. Ông Trần Văn Đ tự nguyện không yêu cầu bà Võ Thị V cấp dưỡng nuôi con nên không buộc bà Võ Thị V phải cấp dưỡng nuôi con.
[5] Bà Võ Thị V và ông Trần Văn Đ không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên không đặt ra xem xét.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.
[7] Về án phí: Bà Võ Thị V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bà Võ Thị V đã nộp tạm ứng xong nay chuyển thu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Võ Thị V ly hôn ông Trần Văn Đ.
2. Về quyền nuôi con chung: Giao con là Trần Thị Cẩm T (giới tính nữ), sinh ngày 01/4/2015 và Trần Thị S (giới tính nữ), sinh ngày 09/01/2009 cho ông Trần Văn Đ tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Võ Thị V không cấp dưỡng nuôi con.
Bà Võ Thị V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Bà Võ Thị V chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0019163 ngày 27 tháng 9 năm 2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, như vậy bà Võ Thị V không còn phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Thị Vẹn |
4
Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn
- Số bản án: 05/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
