TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN TỈNH THANH HÓA *** | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc *** |
Bản án số: 05/2024/HS-ST
Ngày: 10 - 01 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Sang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Thoa
2. Ông Nguyễn Quốc Sáu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn tham gia phiên tòa:
Bà Lê Huyền Diệu – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Đỗ Viết Đ, Giới tính: nam, sinh ngày: 05 tháng 6 năm 1989; tại: T, Thanh Hóa, Nơi ĐKNKTT: Thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Hiện nay ở trọ: Tổ D, khu phố E, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Đỗ Viết K, con bà: Thiều Thị L; Vợ: Phan Thị H, sinh năm 1988 và 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
2. Lê Văn C, Giới tính: nam; sinh ngày: 12 tháng 9 năm 1989; tại: H, Thanh Hóa; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Lê Văn T (đã chết), con bà: Trịnh Thị M; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, Tiền sự: Không
*Nhân thân:
Năm 2018, bị Tòa án nhân dân huyện Hà Trung xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã thi hành xong.
Ngày 28/11/2021 bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hình thức: phạt tiền (1.500.000đ). Đã thi hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
• Người làm chứng: bà Trịnh Thị M, sinh năm 1958 (có mặt).
Địa chỉ: thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa
- Người chứng kiến: anh Nguyễn Văn M1, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố E, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 15 ngày 23/10/2023, Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thị xã B phối hợp với Công an phường làm nhiệm vụ tại khu vực nhà văn hóa khu phố E, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa phát hiện Lê Văn C điều khiển xe máy Honda Wave Anpha màu trắng- đen BKS 36B7-54049 chở theo sau là bàTrịnh Thị M2 (là mẹ ruột của C) có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, Lê Văn C đã tự nguyện giao nộp 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ, kích thước khoảng (0,5x1,5) cm bên trong có chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng. C khai nhận gói giấy trên là ma túy H1, C vừa mua của Đỗ Viết Đ với giá 170.000 đồng để sử dụng. Tổ công tác mời người chứng kiến, đưa đối tượng cùng tang vật thu giữ về trụ sở Công an phường B để lập biên bản phạm pháp quả tang và niêm phong tang vật theo quy định.
*Tài sản và vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ, kích thước khoảng (05,x1,5)cm bên trong có chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng;
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave Anpha màu trắng- đen BKS 36B7-54049, đã qua sử dụng.
Trên cơ sở lời khai của Lê Văn C, Cơ quan CSĐT Công an thị xã B ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đỗ Viết Đ và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật và tài sản của Đỗ Viết Đ tại nhà trọ ở tổ D, khu phố E, phường B, thị xã B và tại thôn D, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả thu giữ tại nhà trọ gồm:
- 01 gói giấy ô ly màu trắng, kích thước khoảng (0,5x1,5)cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng, dạng cục vụn;
- 01 gói giấy một mặt màu trắng, một mặt in hình, kích thước khoảng (1,5x1,5)cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng, dạng cục vụn;
- Tiền Việt Nam đồng, tổng số tiền 170.000 đồng gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ, 01 tờ tiền mệnh giá 50.000đ và 02 tờ tiền mệnh giá 10.000đ;
- 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A14 màu đen, đã qua sử dụng;
- 01(một) dao lam cũ đã rỉ sét bám dính chất bột màu trắng không rõ nhãn hiệu;
- 01(một) mảnh nilon trắng không rõ hình dạng.
Ngày 23/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã B ra Quyết định trưng cầu giám định số 162/QĐ-CSĐT, giám định chất ma túy đối với tang vật thu giữ.
Tại bản Kết luận giám định số 3893/KL-KTHS ngày 25/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:
- Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng (trọng lượng) 0,111g (không phẩy một một một gam) loại: Heroine;
- Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong kí hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng (trọng lượng) 0,067g (không phẩy không sáu bảy gam) loại: Heroine;
- Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt dao lam cũ đã rỉ sét của phong bì niêm phong kí hiệu M3 gửi giám định là ma túy, loại Heroine. Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.
- Tìm thấy chất ma túy, loại Heroine bám dính trên mảnh nilon màu trắng của phong bì niêm phong kí hiệu M3 gửi giám định. Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính
Tại cơ quan điều tra, Đ, C khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 23/10/2023 Đ một mình đi đến khu vực cầu Á thuộc tỉnh Ninh Bình để tìm chỗ mua ma túy. Khi đến khu vực cầu Á, Đ gặp một nam thanh niên và hỏi có phải anh H2 không, thì người nam thanh niên kia đáp “phải tao là H2 đây”, Đ nói “bán cho tôi 200.000₫ ma túy”. H2 cầm tiền và đưa lại cho Đ một gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, Đ quay về phòng trọ tại tổ D, phường B, thị xã B vào phòng vệ sinh lấy một phần ra để sử dụng, phần còn lại chia làm 03 gói nhỏ mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 23/10/2023, Lê Văn C mượn điện thoại của bà Lê Thị X (bác ruột của C) số 0335.141.397 gọi đến số điện thoại của Đỗ Viết Đ là 0342.362.974 hỏi “anh còn không để em cái”, (tức là hỏi Đ còn ma tuý Heroin không, bán cho C 01 gói). Đ trả lời là “còn nhưng ít lắm”. Khoảng 01 giờ sau, C đến phòng trọ gặp Đ, tại đây Đ lấy trong ví để ở túi quần bên phải đang mặc ra 01 gói ma tuý Heroin, kích thước khoảng (0,5x1,5)cm, gói bằng giấy ô ly màu trắng đưa cho C, C đưa lại cho Đ số tiền 170.000₫ (một trăm bảy mươi nghìn đồng) gồm 01(một) tờ tiền mệnh giá 100.000 nghìn, 01(một) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 02(hai) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng. Cầm gói ma túy trên tay, C đi bộ ra cổng rồi điều khiển xe máy chở bà Trịnh Thị M về, đến đoạn đầu đường L thuộc khu phố E, phường B, B thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng lại kiểm tra. Biết hành vi của mình không thể che giấu nên C đã tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an gói ma túy vừa mua được của Đỗ Viết Đ.
Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSBS ngày 28/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn truy tố Đỗ Viết Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, truy tố Lê Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo ĐỗViết Đức về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, truy tố bị cáo Lê Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 Bộ luật hình xử phạt Đỗ Viết Đ từ 24 đến 30 tháng tù.
- Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Văn C từ 15 đến 18 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng điểm a, b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; 01 (một) lưỡi dao lam rỉ xét bám dính chất bột màu trắng, không rõ nhãn hiệu và 01 (một) túi nilon màu trắng không rõ hình dạng;
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 170.000 đồng (gồm: 01(một) tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01(một) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 02(hai) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng); 01(một) điện thoại di động ghi dòng chữ Samsung Galaxy A14 màu đen, bên trong lắp sim số 0342362974 của Đỗ Viết Đ.
Về án phí: đề nghị buộc các bị cáo Đỗ Viết Đ và Lê Văn C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu được, kết luận giám định,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, điều tra viên; VKSND thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai tại phiên tòa, phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 23/10/2023, tại khu phố E, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, Đỗ Viết Đ đã bán trái phép 01 gói ma túy có tổng khối lượng 0,111g (không phẩy một một một gam) loại Heroine cho Lê Văn C để sử dụng.
Ngoài ra, lực lượng Công an tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật, tài liệu của Đỗ Viết Đ thu giữ 02 gói ma túy có tổng khối lượng 0,067g (không phẩy không sáu bảy gam) loại Heroine nhằm mục đích bán trái phép cho người khác để kiểm lời, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt.
Do đó, Đỗ Viết Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng 0,178g (không phẩy một bảy tám gam) Heroine và Lê Văn C phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 0,111g (không phẩy một một một gam) Heroine. Đối chiếu với quy định của Bộ luật hình sự, hành vi nêu trên của Đỗ Viết Đ đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của Lê Văn C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn truy tố các bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ pháp lý.
[3] Xét tính chất vụ án:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nơi xảy ra tội phạm. Do đó, cần xét xử các bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Trong vụ án, hai bị cáo phạm tội độc lập và khác nhau về tội danh. Bị cáo Đ bán ma tuý để kiếm lời và đã bán cho bị cáo C 01 lần. Bị cáo C mua ma túy của bị cáo Đ, chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ:
Cả hai bị cáo Đ và C đều có chung một tình tiết giảm nhẹ là quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, khi lượng hình HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được đường lối chính sách của pháp luật Nhà nước, từ đó cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản, thu nhập, bản thân phải chấp hành hình phạt tù nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng:
Cơ quan điều tra thu giữ 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, kích thước khoảng (0,5x1,5)cm bên trong có chứa chất bột dạng cục vụn màu trắng thu của Lê Văn C có tổng trọng lượng là 0, 111 gam, loại Heroine; 01 gói giấy ô ly màu trắng, kích thước khoảng (0,5x1,5)cm, bên tro trong có chứa chất bột màu trắng, dạng cục vụn và 01 gói giấy một mặt màu trắng, một mặt in hình, kích thước khoảng (1,5x1,5)cm, bên trong có chứa chất bột màu trắng, dạng cục vụn thu giữ của Đỗ Viết Đ có tổng trọng lượng 0, 067 gam, loại Heroine đã được chuyển giao sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn bảo quản. Vật chứng này là vật loại thuộc Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy;
01 (một) lưỡi dao lam rỉ sét bám dính chất bột màu trắng, không rõ nhãn hiệu và 01 (một) mảnh nilon màu trắng không rõ hình dạng) là những vật không có giá trị nên tịch thu tiêu huỷ.
Số tiền 170.000 đồng là tiền Đỗ Viết Đ bán ma túy cho C là tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;
01(một) điện thoại di động ghi dòng chữ Samsung Galaxy A14 màu đen, bên trong lắp sim số 0342362974 của Đỗ Viết Đ bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua bán ma tuý nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;
Như vậy là phù hợp với quy định tại điểm a, b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về những vấn đề khác:
*Về nguồn gốc chất ma túy: Bị can Đỗ Viết Đ khai nhận toàn bộ số ma túy Đ bán cho Lê Văn C ngày 23/10/2023 và số ma túy Công an thu giữ tại phòng trọ là của Đ mua của người nam giới tên H2 (Đ không biết rõ họ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể) ở khu vực cầu Á thuộc xã N, huyện H thành phố N. Việc mua bán ma túy chỉ có Đ và H2, không có ai biết, chứng kiến, không liên hệ qua điện thoại cũng như không giao dịch qua tài khoản Ngân hàng nên không có căn cứ để truy tìm, xác định đối tượng tên H2. Cơ quan CSĐT tiếp tục điều tra làm rõ đối tượng đã bán ma túy cho Đỗ Viết Đ. Đủ căn cứ sẽ xử lý theo pháp luật.
Đối với các tài sản, đồ vật thu giữ không liên quan đến vụ án, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, gồm:
01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave Anpha màu trắng- đen BKS 36B7-54049 có số máy: JA39E1338803 và số khung: 3918LY006679, là tài sản của anh Lê Tất T1 (anh trai ruột của C) mua về sử dụng sinh hoạt hằng ngày. Quá trình điều tra xác định: xe có nguồn gốc rõ ràng, không liên quan đến hành vi phạm tội, không phải là tang vật của vụ án nào khác. Anh T1 không biết C mượn xe máy để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Lê Tất T1. Nhận lại tài sản anh T1 không có ý kiến thắc mắc gì. Việc cơ quan điều tra trả lại tài sản, đồ vật đã thu giữ nhưng không liên quan đến vụ án cho chủ sở hữu là hoàn toàn phù hợp. Nên miễn xét.
[9] Bị cáo Đỗ Viết Đ và Lê Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo được kháng cáo bản án theo điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 điều 251, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự (Đối với bị cáo Đ);
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự (Đối với bị cáo C).
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Viết Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
Bị cáo Lê Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Đỗ Viết Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/10/2023.
Xử phạt: Lê Văn C 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/10/2023.
Về vật chứng: áp dụng điểm a, b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu, tiêu hủy: 0,101 g (không phẩy một không một gam) chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M1; 0,057 g (không phẩy không năm bảy gam) chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì ký hiệu M2 (mẫu vật còn lại sau giám định); 01 dao lam cũ đã rỉ sét, 01 mảnh nilon màu trắng; tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- Số tiền 170.000 đồng của Đỗ Viết Đ;
- 01(một) ĐTDĐ Samsung Galaxy A14 màu đen, bên trong lắp 01 sim điện thoại, không kiểm tra chất lượng bên trong của Đỗ Viết Đ.
(Theo theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 29/12/2023 giữa Cơ quan Công an và Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Bỉm Sơn).
* Án phí: áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng áp phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Đỗ Viết Đ và Lê Văn C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo Đỗ Viết Đ và Lê Văn C có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/01/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Xuân Sang |
Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo Đức, Cường phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
