|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 01 - 2024
Về việc Ly hôn, con chung khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mến.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Hoàng Đức Cảnh
- Ông Phạm Công Hạ
- Thư ký phiên tòa: Ông PH Thế Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 336/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H T; nơi cư trú: Thôn 5, xã M, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Phú H; Nơi cư trú: Thôn 5, xã M, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Phú H kết hôn với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã K vào ngày 04/3/2009. Sau khi kết hôn vợ cH về ăn ở tại thôn 5, xã M, huyện T Nguyên, thành phố Hải Phòng từ đó cho đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn và căng thẳng. Nguyên nhân do tính tình vợ cH không hoà hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống trong làm ăn kinh tế, trong cuộc sống gia đình vợ cH không thể có tiếng nói chung để cùng lo vun đắp xây dựng gia đình và chăm sóc các con, thường xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm lẫn nhau và anh H thường xuyên có hành động bạo lực đánh đập chị và đánh con cái nhiều lần mâu thuẫn vợ cH mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng đều không có kết quả tình cảm vợ cH không thể cải thiện được. Nay để giải phóng cho nhau chị đề nghị được ly hôn anh Hoàng Phú H.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ cH có 02 con chung tên Hoàng Phú H, sinh ngày 17/8/2010 và Hoàng Thị Hải D, sinh ngày 13/10/2019; khi ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi con gái tên Hoàng Thị Hải D vì hiện nay cháu còn nhỏ cần có sự chăm sóc của mẹ. Anh H nuôi con chung tên Hoàng Phú H.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để hai bên tự thỏa thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Vợ cH có tài sản chung song chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn anh Hoàng Phú H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất với lời trình bày của chị T về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ cH không hoà hợp có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, do mâu thuẫn nên vợ cH đã sống ly thân nhau từ năm 2020 đến nay mỗi người một nơi. Nay chị T quyết tâm xin ly hôn anh đồng ý thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Vợ cH có 02 con chung tên Hoàng Phú H, sinh ngày 17/8/2010 và Hoàng Thị Hải D, sinh ngày 13/10/2019, khi ly hôn anh H đề nghị được nuôi cả hai con chung không đồng ý giao con chung cho chị T nuôi với lý do điều kiện nơi ăn ở không đảm bảo ảnh hưởng đến con.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để anh và chị T tự thoả thuận giải quyết với nhau không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh H trình bày không yêu cầu Toà án giải quyết.
Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa sơ thẩm hôm nay. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, đã thực hiện đúng và đầy đủ quy định về ra Thông báo thụ lý vụ án, bảo đảm về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc lập hồ sơ vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, việc giao nộp và yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ, xác minh, cấp tống đạt và tổ chức phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã đảm bảo tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 55, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326//2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H T và đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H T và anh Hoàng Phú H. Về con chung: Giao con chung tên Hoàng Phú H, sinh ngày 17/8/2010, cho anh Hoàng Phú H trực tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Giao con chung tên Hoàng Thị Hải D, sinh ngày 13/10/2019, cho chị Nguyễn Thị H T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, cho đến khi từng con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để chị T và anh H tự thoả thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung: Chị T và anh H thống nhất trình bày không yêu cầu Toà án giải quyết, nên kiểm sát viên không đề cập giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân
Xét, chị Nguyễn Thị H T và anh Hoàng Phú H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tại Giấy chứng nhận kết hôn số 19, quyển số 01/2009, ngày 04 tháng 3 năm 2019 là hôn nhân hợp pháp. Tài liệu, chứng cứ thể hiện: Nguyên nhân mâu thuẫn vợ cH giữa chị T và anh H là do tính tình vợ cH không hoà hợp, trong cuộc sống chung thường hay xảy ra cãi mắng, xúc phạm lẫn nhau mâu thuẫn vợ cH mặc dù đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không có kết quả. Nay chị T xin ly hôn, anh H đồng ý thuận tình ly hôn. Xét việc thuận tình ly hôn giữa chị T và anh H là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định Điều 51, Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình nên, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung
Chị T và anh H có 02 con chung tên Hoàng Phú H, sinh ngày 17/8/2010, Hoàng Thị Hải D, sinh ngày 13/10/2019. Tài liệu, chứng cứ thể hiện: Kể từ khi vợ cH sống ly thân đến nay cả hai con chung sống cùng anh H tại nhà chung của vợ cH, quá trình giải quyết vụ án tại trung tâm hoà giải chị T và anh H đã thống nhất thoả thuận với nhau về việc nuôi con chung, anh H nuôi con chung tên Hoàng Phú H, chị T nuôi con chung tên Hoàng Thị Hải D nhưng sau đó anh H thay đổi không đồng ý giao con cho chị T nuôi dưỡng mà đề nghị Toà án giải quyết để anh được nuôi cả hai con chung với ly do chị T chưa đảm bảo nơi ăn ở cho hai con chung, chị T không đồng ý và trình bày trong quá trình nuôi hai con anh H không đảm bảo việc chăm sóc hai con và không đóng học cho con đầy đủ. Hội đồng xét xử, xét: Chị T và anh H đều có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung, tuy nhiên việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cần xem xét đến mọi mặt. Chị T có việc làm có thu nhập ổn định, anh H làm nghề tự do (buôn bán cau) không có thu nhập ổn định nhưng có nơi ăn ở ổn định. Như vậy xét về điều kiện nuôi con chung của chị T và anh H là như nhau, song để các con có điều kiện sống tốt hơn cũng như đảm bảo được việc chăm sóc hai con cần giao cho chị T và anh H mỗi người nuôi 01 con chung, mặt khác con chung tên Hoàng Phú H có nguyện vọng được sống cùng bố. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên cần giao con chung tên Hoàng Phú H cho anh Hoàng Phú H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giao con chung tên Hoàng Thị Hải D cho chị Nguyễn Thị H T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi từng con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để hai bên tự thoả thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con chung được quyền thăm nom và chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
[4] Về tài sản chung
Chị Nguyễn Thị H T và anh Hoàng Phú H thống nhất trình bày vợ cH không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[5] Về án phí
Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị H T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H T và anh Hoàng Phú H.
- Về con chung: Giao con chung tên Hoàng Thị Hải D, sinh ngày 13/10/2019 cho chị Nguyễn Thị H T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Giao con chung tên Hoàng Phú H, sinh ngày 17/8/2010 cho anh Hoàng Phú H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con chung được quyền thăm nom và chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để hai bên tự thoả thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H T và anh Hoàng Phú H thống nhất trình bày vợ cH không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nay được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008917, ngày 02 tháng 11 năm 2023, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị H T đã nộp đủ.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - TAND TP Hải Phòng;
- - VKSND huyện T Nguyên;
- - Chi cục THADS huyện T Nguyên;
- - UBND xã K, h. Thủy Nguyên;
- - Lưu: VT; Hồ sơ vụ án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Lương Doãn Văn Sáng |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mến |
Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, con chung khi ly hôn
- Số bản án: 05/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
