|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2024/HSST |
|
|
Ngày 10 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Lợi
Bà Hoàng Thị Kim Phượng
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Việt Cường - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Bùi Hoàng Thao - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 154/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2023/QĐXXST-HS ngày 14/12/2023; Thông báo thay đổi lịch xét xử ngày tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Ngọc H, sinh năm 1999 tại Ninh Bình. Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Số nhà A, ngách A, đường L, phố B, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hoàng Mạnh H1 và con bà Nguyễn Thị H2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/8/2023 đến ngày 29/8/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn T, sinh năm 1993
Trú tại: Xóm H, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt
Người chứng kiến: Anh Phạm Đức T1. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hoàng Ngọc H là người sử dụng ma túy. Để có tiền mua ma túy sử dụng và tiêu sài cá nhân, H đi sang khu vực bờ đê sông Đ thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định tìm mua ma túy “Kẹo, ke” mục đích về bán lại để kiểm lời. Cụ thể:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 22/8/2023, Trần Văn T, (là bạn nghiện với H) sử dụng số 0943.071.035 gọi đến số điện thoại 0342.499.xxx của H hỏi mua 01 túi ma túy “Ke” và 04 viên ma túy “Kẹo”. H đồng ý bán với giá tiền là 2.700.000 đồng gồm 1.200.000 đồng/4 viên ma túy “Kẹo” và 1.500.000 đồng/ 01 túi ma túy “Ke”, H hẹn T đi đến khu vực cổng chào bảng điện tử thuộc phố B, phường N, thành phố N để bán ma túy. Sau khi thỏa thuận xong, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 35M8-2424 đi từ nhà đi đến khu vực bờ đê sông Đ thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định hỏi mua của một người đàn ông không quen biết (nhìn giống người nghiện) 01 túi ma túy “Ke” và 04 viên ma túy “Kẹo”. Người này đồng ý và bảo 01 túi ma túy “Ke” giá 1.200.000 đồng, 04 viên ma túy “Kẹo” giá 1.200.000 đồng, H đưa cho người này số tiền 2.400.000 đồng người này cầm tiền rồi đưa lại cho H 01 túi nilon màu trắng miệng túi có viền màu đỏ kích thước 5x8 cm bên trong chứa 04 viên nén hình con bướm màu tím và 01 túi nilon màu trắng miệng túi có viền màu đỏ kích thước 2,5x2,5 cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Hiến xác định đây là ma túy “Kẹo, ke” nên cầm lấy rồi điều khiển xe mô tô đi về địa điểm đã hẹn bán ma túy cho T. Tại đây T đưa cho H số tiền 2.500.000 đồng, do còn thiếu 200.000 đồng nên T nói H cho nợ hôm sau trả thì H đồng ý. Sau khi bán được ma túy, H cầm số tiền 2.500.000 đồng điều khiển xe mô tô đi về nhà ở phố B, phường N, thành phố N còn T mang số ma túy “Kẹo, ke” vừa mua được về nhà sử dụng hết.
Ngoài ra khoảng 15 giờ 30 phút ngày 23/8/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy “Ke, kẹo” nên H lấy số tiền 2.500.000 đồng (là tiền bán ma túy cho T ngày 22/8/2023) tiếp tục điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 35M8-2424 đến khu vực bờ đê sông Đ thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định tìm mua ma túy. Tại đây H gặp lại người đàn ông bán ma túy cho H ngày 22/8/2023, H hỏi mua của người này 04 viên ma túy dạng “kẹo” và 01 túi ma túy dạng "ke”. Người này đồng ý bán 04 viên ma túy “Kẹo” giá 1.200.000 đồng và 01 túi ma túy “Ke” giá 1.300.000 đồng. H lấy số tiền 2.500.000 đồng đưa cho người này, người này cầm tiền rồi đưa lại cho H 01 túi nilon màu trắng miệng túi có viền màu đỏ kích thước 5x8 cm bên trong chứa 04 viên dạng nén hình con bướm màu tím và 01 túi nilon màu trắng có viền màu đỏ kích thước 2,5x2,5 cm chứa chất tinh thể màu trắng. Hiến xác định đây là ma túy “Kẹo, ke” nên cầm lấy rồi điều khiển xe mô tô đi đến khu vực bờ đê gần khách sạn T3 thuộc phố A, phường Đ, thành phố N lấy một ít ma túy ke trong túi ra sử dụng. Sử dụng xong Hiến cất giấu toàn bộ số ma túy còn lại vừa mua được ở trong lòng bàn tay trái, điều khiển xe mô tô đi đến khu vực cổng chào bảng điện tử
thuộc phố B, phường N, thành phố N với mục đích có ai hỏi mua ma túy thì bán. Khi H đến khu vực bảng điện tử thuộc phường N thì lúc này T gọi điện cho H hỏi đang ở đâu để T mang số tiền 200.000 đồng mà T mua ma túy buổi sáng ngày 22/8/2023 nợ đến trả. H bảo T đi đến khu vực cổng chào bảng điện tử gặp H, lúc này H đang ngồi trên xe thì gặp tổ Công tác thuộc phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phố hợp với Công an phường N, thành phố N đang làm nhiệm vụ tại khu vực. Khi tổ công tác tiến lại gần thì H định bỏ đi thì bị tổ công tác yêu cầu đứng lại kiểm tra. Quá trình kiểm tra H tự giác khai nhận đang cất giấu ma túy “Ke, kẹo” mục đích để sử dụng và bán kiếm lời đồng thời giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon bên trong có 04 viên nén hình con bướm màu tím và 01 túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Tổ công tác đã niêm phong số vật chứng trên vào trong phong bì ký hiệu Q1 theo đúng quy định pháp luật. Ngoài ra còn thu giữ của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream biển kiểm soát 35M8-2424.
Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở, đồ vật của Hoàng Ngọc H tại số nhà A, ngõ C, đường L, phố B, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Quá trình khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật tài sản nào khác.
Cơ quan Cảnh sát điều tra triệu tập Trần Văn T làm việc, quá trình làm việc T đã khai nhận hành vi của mình và tự giác giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh lắp sim số 0943.071.035 T sử dụng để liên lạc mua ma túy và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, không lắp sim T sử dụng để quay lại quá trình T mua ma túy của Hiến ngày 22/8/2023. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành sao trích file video nói trên vào đĩa DVD niêm phong theo đúng quy định. Ngày 13/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tiến hành giám định đối với 01 File video. Tại kết luận giám định số 841/KL-KTHS-KTS&ĐT ngày 23/10/2023 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: không phát hiện dấu hiệu cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 01 tệp video lưu trữ trong đĩa DVD gửi giám định.
Tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng 04 viên nén hình con bướm màu tím và khối lượng chất tinh thể màu trắng thu giữ của Hoàng Ngọc H. Kết quả:
- - Khối lượng 04 viên nén màu tím là 1,9958 gam, sau khi cân xong 04 viên nén này được bỏ vào trong một túi nilon màu trắng ký hiệu M1.
- - Khối lượng chất tinh thể màu trắng là 0,8371 gam, sau khi cân xong chất tinh thể màu trắng này được bỏ vào trong một túi nilon màu trắng ký hiệu M2.
Túi nilon ký hiệu M1, M2 được niêm phong trong phong bì ký hiệu M theo đúng quy định của pháp luật gửi đến cơ quan giám định để xác định khối lượng ma túy, loại ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 687/KL-KTHS-MT ngày 29/8/2023 của phòng K Công an tỉnh N kết luận:
- - Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 1,9958 gam, là ma túy, loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy số thứ tự 247, thuộc bảng Danh mục IIC; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ.
- - Mẫu gửi giám định ký hiệu M2 có khối lượng 0,8371 gam, là ma túy, loại Ketamine. Ketamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục III, số thứ tự 40; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại bản Cáo trạng số: 156/CT-VKS ngày 23/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Hoàng Ngọc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Hoàng Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc H từ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù đến 27 (Hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/8/2023.
- Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Truy thu sung ngân sách Nhà nước đối với bị cáo số tiền 2.700.000 đồng là tiền bị cáo bán ma tuý cho Trần Văn T ngày 22/8/2023.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone lắp sim số 0342.499.xxx.
Tịch thu tiêu huỷ: toàn bộ số ma tuý loại Methamphetamine và Ketamine còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong phong bì ghi Mẫu vật hoàn trả sau giám định số 687/KL-KTHS-MT; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Ngọc H khai báo khai báo thành khẩn, thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám xét; Biên bản niêm phong đồ vật; Biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng; Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 22/8/2023, tại khu vực cổng chào bảng điện tử thuộc phố B, phường N, thành phố N, bị cáo Hoàng Ngọc H có hành vi bán trái phép 04 viên ma túy “Kẹo” với giá 1.200.000 đồng và 01 túi ma túy “Ke” giá 1.500.000 đồng cho Trần Văn T. Ngoài ra khoảng 16 giờ 10 phút ngày 23/8/2023, tại địa điểm trên Hoàng Ngọc H có hành vi cất giấu trái phép 1,9958 gam, ma túy loại Methamphetamine và 0,8371 gam ma túy loại Ketamine, nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến trật tự trị an, ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là công dân đã trưởng thành, nhận thức rõ tác hại của ma túy. Nhưng bị cáo không có ý thức rèn luyện bản thân, không chịu lao động chân chính, muốn có tiền để thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên đã cố ý phạm tội hai lần. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét về nhân thân; tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo có ông nội bị cáo là thương binh. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt tù cách ly xã hội một thời gian tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua bán trái phép chất ma tuý nhằm thu lời bất chính. Do vậy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với toàn bộ số ma tuý loại Methamphetamine và Ketamine còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong phong bì ghi Mẫu vật hoàn trả sau giám định số 687/KL-KTHS-MT; 01 phong bì niêm phong theo đúng quy định của pháp luật là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
T2 sung ngân sách N nước số tiền 2.700.000 đồng bị cáo bán ma tuý cho Trần Văn T ngày 22/8/2023.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp sim số 0342.499.xxx thu giữ của Hoàng Ngọc H. Ngày 22/8/2023, H đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc, trao đổi mua ma túy với T nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[8] Về nguồn gốc ma túy: Số ma tuý Hoàng Ngọc H bán cho Trần Văn T ngày 22/8/2023 và nguồn gốc số ma túy thu giữ được của Hiến ngày 23/8/2023: Quá trình điều tra H khai mua của cùng một người đàn ông giống người nghiện, tại khu vực bờ đê sông Đ thuộc xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định vào các ngày 22/8/2023 và 23/8/2023 (H không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này), do đó Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xác minh người đàn ông bán ma túy như H khai báo.
[9] Các vấn đề khác:
Đối với 02 chiếc điện thoại di động gồm 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel, màu xanh lắp sim số 0943.071.035 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, không lắp sim thu giữ của Trần Văn T: Quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1970, trú tại thôn P, xã N, thành phố N. Ngày 20/8/2023, anh S cho T mượn chiếc điện thoại nhãn hiệu Mastel màu xanh, lắp sim số 0943.071.035 để T liên lạc và nhờ T bán hộ chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen trong máy không lắp sim với giá tiền là 1.000.000 đồng nhưng T chưa bán được. Việc T sử dụng điện thoại của anh S để trao đổi mua bán ma túy anh S hoàn toàn không biết và không liên quan đến hành vi vi phạm của T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại 02 chiếc điện thoại có đặc điểm nêu trên cho anh Nguyễn Văn S theo đúng quy định pháp luật.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 29M8-2424 thu giữ của Hoàng Ngọc H. Quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Đồng Văn P, sinh năm 2002, trú tại phố B, phường N, thành phố N. Khoảng 08 giờ ngày 18/8/2023, anh P điều khiển xe đến nhà của H chơi, tại đây H có hỏi mượn chiếc xe này của anh P để đi lại, anh P đồng ý nói khi nào nhu cầu sẽ lấy lại. Sau đó H sử dụng xe để đi mua ma túy "Kẹo, ke" rồi bán cho Trần Văn T vào ngày 22/08/2023. Đến ngày 23/08/2023, H tiếp tục sử dụng chiếc xe này để đi mua ma túy “Kẹo, ke” mục đích để
sử dụng và bán kiếm lời thì bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang. Việc H sử dụng chiếc xe của anh P đi mua, bán ma túy anh P hoàn toàn không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của H trong vụ án. Cơ quan điều tra Công an thành phố N đã trả cho anh Đồng Văn P chiếc xe trên theo quy định.
Đối với Trần Văn T: Ngày 22/8/2023, T đã mua của Hoàng Ngọc H 04 viên ma túy dạng “kẹo” với giá 1.200.000 đồng và 01 túi ma túy “ke” với giá 1.500.000 đồng tại khu vực cổng chào bảng điện tử thuộc phố B, phường N, thành phố N. T đã thanh toán số tiền 2.500.000 đồng và nợ H 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T mang về nhà sử dụng một mình hết. Đến khoảng 06 giờ 10 phút ngày 23/8/2023, T mang số tiền 200.000 đồng đến khu vực cổng chào bảng điện tử thuộc phố B, phường N, thành phố N để trả lại tiền cho H nhưng chưa gặp được H thì H đã bị Cơ quan Công an bắt giữ. Ngoài lời khai của T thì không có tài liệu chứng cứ nào khác xác định việc T sử dụng ma túy, do đó không đủ căn cứ xử lý T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Công an đã thông báo cho chính quyền địa phương nơi Trần Văn T cư trú biết để quản lý theo quy định.
[10] Bị cáo Hoàng Ngọc H bị tuyên là có tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời gian luật định.
[11] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 23/8/2023.
Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Ngọc H 5.000.000đ (Năm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Thu sung ngân sách nhà nước đối với bị cáo H số tiền 2.700.000 đồng.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone lắp sim số 0342.499.xxx.
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý loại Methamphetamine và Ketamine còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong phong bì “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” có ghi số 687/KL-KTHS-MT. (Đặc điểm, chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25 tháng 12 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hoàng Ngọc H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Tuyết |
9
Bản án số 05/2024/HSST ngày 10/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Ngọc H phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý
