|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10/01/2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con
chung khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Sĩ Quang
Bà Đỗ Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phan Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 405/2023/HNGĐ-TLST ngày 05/10/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 472/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/12/2023 giữa:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 20/7/1977.
Địa chỉ: Đ, khu dân cư G, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn : Chị Mạc Thị T1, sinh ngày 16/8/1986.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Đội 9, khu dân cư Giang Hạ, phường Tân Dân, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Hiện ở: Đài Loan.
Người được chị T1 ủy quyền giao nhận văn bản: Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Khu dân cư B, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
(Anh T, chị T1 đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Mạc Thị T1 tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C (nay là phường T, thành phố C), tỉnh Hải Dương ngày 28/10/2003. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị T1 đi Đài Loan lao động, vợ chồng mỗi người ở một nơi, hai bên không tìm thấy tiếng nói chung. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị T1.
Về quan hệ con chung : Anh và chị T1 có 02 con chung là Nguyễn Thị Minh T3, sinh ngày 15/12/2004 và Nguyễn Thị H, sinh ngày 31/7/2008. Hiện nay cháu T3 đã trưởng thành, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết. Ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi cháu H và tự nguyện không yêu cầu chị T3 phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị T1 không có tài sản chung, không có nợ chung, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về án phí: Anh T tự nguyện chịu cả án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Chị Mạc Thị T1 hiện đang lao động tại Đài Loan, do anh T không cung cấp được địa chỉ của chị T1, nên Tòa án đã xác minh địa chỉ và tống đạt văn bản tố tụng cho chị T1 thông qua mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T2. Sau khi được gia đình thông tin về việc anh T có đơn xin ly hôn, chị T1 đã gửi quan điểm trình bày đối với yêu cầu của anh T, cụ thể: Chị T1 xác định hiện nay chị đang lao động tại Đài Loan, tháng 01/2019 chị có về Việt Nam thăm gia đình bằng đường hàng không, nhưng do trước đó chị trốn ra ngoài lao động nên tháng 04/2019 khi quay lại Đài Loan làm việc chị không đi được bằng đường hàng không mà phải đi bằng đường tàu biển. Vì vậy, chị không có thông tin xuất cảnh. Chị T1 xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nay anh T có đơn ly hôn chị đồng ý. Về con chung: Chị xác định vợ chồng có hai con chung, hiện nay cháu Nguyễn Thị Minh T3 đã trưởng thành, không đề nghị giải quyết. Cháu Nguyễn Thị H hiện đang sống cùng bố, ly hôn chị đồng ý để anh T nuôi con, tiền cấp dưỡng chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không có. Chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt và ủy quyền cho mẹ đẻ nhận thay văn bản tố tụng, bà T2 đồng ý nhận ủy quyền của chị T1.
- Cháu Nguyễn Thị H là con đẻ của anh T, chị T1 có quan điểm khi bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với bố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa anh T và chị T1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh T được ly hôn chị T1. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị H, sinh ngày 31/7/2008 cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con.Về án phí: Anh T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn T và chị Mạc Thị T1 đều có hộ khẩu thường trú tại: Đ, Khu dân cư G, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Theo gia đình và địa chỉ bì thư chị T1 gửi về Việt Nam thể hiện, chị T1 đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Bản tự khai chị Mạc Thị T1 gửi về Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương chưa được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định dấu vân tay trong văn bản này. Tại kết luận giám định số 111/KL-KTHS ngày 12/12/2023 của Phòng K – Công an thành phố H đã kết luận: Dấu vân tay trong tài liệu cần giám định ký hiệu DV1 và DV2 so với dấu vân tay in tại ô ngón trỏ phải trên 01 (một) Bản sao y bản chính Chỉ bản số [...] mang tên Mạc Thị T1, sinh ngày 16/8/1986; Nơi ĐKNKTT: Tân Dân, Chí L, Hải Dương lập ngày 12/5/2006 tại C, Hải Dương (Ký hiệu M) là của cùng một người. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung bản tự khai mà chị T1 gửi về đúng là ý chí, nguyện vọng của chị T1.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh T, chị T1 có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Mạc Thị T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C (nay là phường T, thành phố C), tỉnh Hải Dương ngày 28/10/2003, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống xa nhau, hai bên không tìm được tiếng nói chung. Nay anh T, chị T1 đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh T có đơn xin ly hôn, chị T1 cũng đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh T và chị T1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T.
- Về quan hệ con chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Mạc Thị T1 có hai con chung là Nguyễn Thị Minh T3, sinh ngày 15/12/2004 và Nguyễn Thị H, sinh ngày 31/7/2008. Ly hôn anh T, chị T1 đều thỏa thuận anh T tiếp tục nuôi cháu H. Cháu T3 đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Xét thấy, thực tế chị T1 đang ở nước ngoài, cháu H sống cùng bố và được chăm sóc tốt nên có căn cứ chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4].Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Mạc Thị T1.
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị H, sinh ngày 31/7/2008 cho anh Nguyễn Văn T chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị T1 phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Chị Mạc Thị T1 được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) anh T đã nộp theo biên lai thu số AA/20223/0001158 ngày 05 tháng 10 năm 2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Chị Mạc Thị T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 05/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
