|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2024/DS-PT Ngày 10/01/2024 V/v: “Yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và kiện đòi quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Việt Hùng;
Các Thẩm phán: ông Đặng Văn Quyết và ông Nguyễn Hà Giang;
Thư ký phiên toà: bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 197/2023/TLPT-DS ngày 12/10/2023, về việc “Yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và kiện đòi quyền sử dụng đất” do Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/ DS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân thành phố B, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 233/2023/QĐ-PT ngày 24/11/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 268/2023/QĐ-PT ngày 06/12/2023, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa giữa:
* Nguyên đơn: Bà Giáp Thị S, sinh năm 1942. Địa chỉ: Số nhà H, đường L, tổ dân phố P, phường D, thành phố B (có mặt);
* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964 (có mặt);
Bà Nguyễn Thị Hải M, sinh năm 1967 (có mặt);
Địa chỉ: Số nhà H, đường L, tổ dân phố P, phường D, thành phố B
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1942 (có mặt);
Địa chỉ: Số nhà H, đường L, tổ dân phố P, phường D, thành phố B.
- Văn phòng C. Địa chỉ: Số A đường T, tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện pháp luật: bà Hoàng Thị Hồng N (Xin vắng mặt).
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn H1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và bà Giáp Thị S là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H1 và bà Giáp Thị S trình bày: Năm 2013 vợ chồng ông H1, bà S có cho tặng con trai Nguyễn Văn H thửa đất số 179, tờ bản đồ số 5, diện tích 212,4m² tại thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang theo hợp đồng tặng cho ngày 12/4/2013. Nhưng sau khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vợ chồng anh H đã thể hiện bản chất vô đạo đức, bất nhân, bất nghĩa với bố, mẹ. Năm 2017 ông, bà đòi lại phần đất phía sau chưa sử dụng và anh H đã đồng ý trả, nhưng sau lại không trả. Năm 2020, qua nhiều buổi hòa giải của anh, em hai bên họ hàng, gia đình có làm biên bản họp giữa vợ chồng ông, bà và hai anh con trai, đặt ra tám điều để mọi người thực hiện, nhưng vợ chồng anh H, chị M ngày càng sống vô đạo đức, mất hết nhân tính. Đến năm 2021, ông, bà có viết đơn trình báo từ con gửi UBND phường D. Năm 2022, UBND phường D có tổ chức hòa giải nhưng vợ chồng H, M không làm theo bất cứ điều gì trong biên bản hòa giải, thể hiện thái độ coi thường bố, mẹ và đạo đức giả. Do vậy ông, bà thống nhất đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 12/4/2013 giữa vợ chồng ông, bà và anh Nguyễn Văn H đã được công chứng tại phòng C1, tỉnh Bắc Giang, đến nay được UBND thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng B0 209369 ngày 7/5/2013 cho anh H, chị M và yêu cầu anh H, chị M trả lại cho ông, bà thửa đất đã được tặng cho trên.
Tại đơn xin rút đơn khởi kiện ghi ngày 14/2/2023, biên bản ghi lời khai, ông Nguyễn Văn H1 trình bày: Ông đã suy nghĩ về vấn đề tranh chấp giữa vợ chồng ông và vợ chồng anh H, chị M. Ông không mong muốn tranh chấp này xảy ra bởi vì khi ra Tòa thì cha – con, gia đình sẽ mất hết tình cảm. Do vậy ông có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đối với phần của ông. Việc rút đơn khởi kiện của ông là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Đối với bà S, ông đã trao đổi, nhưng bà S không đồng ý rút đơn là quyền của bà S. Ông xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 23/02/2023, bà Giáp Thị S trình bày: Ông H1 có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện là quyền của ông H1, bà nhất trí. Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình. Thửa đất số 179, tờ bản đồ số 5, diện tích 212,4m² bà và ông H1 đã tặng cho anh Nguyễn Văn H có nguồn gốc thuộc thửa đất mà bố, mẹ chồng để lại cho vợ chồng bà. Năm 2013, vợ chồng bà đã lập hợp đồng tặng cho anh H 212,4m² đất và anh H2 217,1m² đất tại Phòng C1 - tỉnh Bắc Giang. Việc tặng cho quyền sử dụng đất trên của vợ chồng bà là tự nguyện, không bị ai ép buộc, trình tự, thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất đúng quy định của pháp luật, cũng không có yêu cầu ràng buộc về trách nhiệm, nghĩa vụ của anh H với vợ chồng bà sau này. Sau đó, anh H được UBND thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vợ chồng bà có biết. Vợ chồng bà đã bàn giao đất cho anh H và vợ chồng anh H đã làm nhà và quản lý, sử dụng đất từ khi được tặng cho đến nay. Sau này anh H, chị M nhập tài sản riêng thành tài sản chung của vợ chồng khi nào bà không rõ. Sau khi nhận đất, anh H và chị M không có trách nhiệm, không chăm sóc, không cho tiền phụng dưỡng bố mẹ, không thờ cúng tổ tiên, không đi công việc hiếu, hỷ chung của gia đình. Năm 2017, năm 2020, gia đình đã họp để yêu cầu anh H có trách nhiệm nhưng anh H không thực hiện. Năm 2022, khi UBND phường D đã hòa giải mâu thuẫn, anh H, chị M hứa chu cấp cho bố, mẹ mỗi tháng 2.000.000 đồng và chăm sóc đến cuối đời, ngoài ra, vợ chồng bà cũng yêu cầu anh H phải xây nhà thờ trên phần đất còn lại, anh H đã đồng ý. Tuy nhiên, sau đó anh H không thực hiện. Do vậy, bà yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng bà và anh Nguyễn Văn H ngày 12/4/2013; hủy thỏa thuận nhập tài sản riêng của anh H và chị M thành tài sản chung; Yêu cầu anh H, chị M trả lại toàn bộ thửa đất có diện tích 212,4m² đã nêu trên. Đối với tài sản anh H, chị M xây dựng gắn liền trên đất thì khi Tòa án tuyên buộc anh H, chị M trả lại đất thì vợ chồng bà sẽ có trách nhiệm trả anh H, chị M giá trị tài sản theo định giá của cơ quan nhà nước. Nếu anh H, chị M không có nhà đất khác để ở thì bà nhất trí cho ở nhờ cho đến khi anh H, chị M chết.
Bị đơn Nguyễn Văn H và Nguyễn Thị Hải M tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai trong quá trình tố tụng trình bày:
Thửa đất số 179, tờ bản đồ số 5, diện tích 212,4m² tại thôn N, phường D, thành phố B (địa chỉ là số nhà H, đường L, tổ dân phố P, phường D, thành phố B) có nguồn gốc là của ông, bà anh để lại cho ông H1, bà S được quyền sử dụng. Năm 2006 ông H1, bà S cho vợ chồng anh, chị được xây ngôi nhà 3 tầng trên một phần thửa đất nhưng chưa nói chia cho diện tích đất cụ thể như thế nào. Năm 2013, ông H1, bà S quyết định phân chia thửa đất của ông H1, bà S có diện tích 640m² ra làm ba phần, một phần để cho ông, H1 bà S ở, một phần cho vợ chồng anh, chị và một phần cho vợ chồng anh Nguyễn Văn H3. Ông H1, bà S đã gọi cán bộ địa chính đến đo đạc, xác định ranh giới đất và sau đó lập hợp đồng tặng cho đất cho con. Bố mẹ cho bao nhiêu thì anh, chị lấy bằng đó, không đòi hỏi gì. Anh H và vợ chồng ông H1, bà S đã đến Phòng C1 tỉnh Bắc Giang để ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ghi ngày 12/4/2013, số công chứng 155/2013, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD. Ngày 7/5/2013 Ủy ban nhân dân thành phố B đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 209369, vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 01663/QĐ số 1282/QĐ-UBND Q09 – T144 cho anh Nguyễn Văn H. Năm 2020, vợ chồng anh, chị thống nhất nhập thửa đất được tặng cho riêng nêu trên thành tài sản chung của vợ chồng và đã lập thỏa thuận tại văn phòng C2, số công chứng 2956/2020, quyển số 02/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/11/2020. Ngày 18/11/2020 Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B đã xác nhận sự việc vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chỉnh lý thửa đất nay là thửa số 28, tờ bản đồ số 41. Ông H1, bà S đã tặng cho các con quyền sử dụng đất là tự nguyện, khi tặng cho không đặt điều kiện gì với các con. Trên thực tế, vợ chồng anh, chị vẫn làm đúng trách nhiệm của người con, vẫn phụng dưỡng bố, mẹ, không có việc vi phạm về đạo đức hay chối bỏ trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, những năm gần đây bà S luôn hằn học, chửi bới, cạnh khóe vợ chồng anh, chị, nhiều lần còn làm mất danh dự của anh, chị, còn ông H1 thì luôn bị bà S bắt làm theo ý của bà nên không quyết định được các vấn đề của gia đình. Nay bà S có đơn khởi kiện, anh, chị không chấp nhận. Đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để tuyên bố không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà S và giữ nguyên hiện trạng quyền sử dụng đất của anh, chị như hiện nay.
Tại biên bản xác minh ngày 28/4/2023, ông Đỗ Văn L – Tổ trưởng tổ dân phố P, phường D cung cấp: Vợ chồng ông Nguyễn Văn H1, bà Giáp Thị S cùng vợ chồng con trai Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Hải M là công dân đăng ký hộ khẩu và thường trú tại tổ dân phố P, phường D, thành phố B. Sự việc mâu thuẫn, tranh chấp về đất đai giữa vợ chồng bà S và vợ chồng anh H đã xảy ra từ năm 2017 đến nay. Nhiều lần Ủy ban nhân dân phường D cùng các cơ quan, ban ngành, tổ dân phố đứng ra hòa giải nhưng chỉ yên ổn một thời gian sau đó lại xảy ra tranh chấp, đến nay thì khởi kiện ra Tòa. Về nguồn gốc thửa đất thì được biết là của bố, mẹ ông H1 để lại, sau đó ông H1 ở và tặng cho các con. Vợ chồng anh H, chị M xây nhà ở trên đất đã nhiều năm nay và theo kết cấu, hình thức xây dựng phải từ trước năm 2010. Về tiền thuế đất là do vợ chồng anh H đóng. Giữa gia đình anh H và hàng xóm liền kề không tranh chấp về ranh giới. Về nguyên nhân mâu thuẫn, qua công tác hòa giải tại địa phương nắm được là do anh H, chị M không có con trai nên sau khi cho anh, chị đất một thời gian thì ông H1, bà S muốn lấy lại một phần đất để sau này cho cháu trai, còn cụ thể hơn thì địa phương không nắm rõ mục đích của các cụ. Trên thực tế, thời gian trước đây vợ chồng anh H, chị M vẫn chăm lo cho bố, mẹ, khi ông H1, bà S đi bệnh viện điều trị vẫn thuốc thang, viện phí, chăm sóc, nuôi dưỡng. Theo ông được biết, sau khi mâu thuẫn gay gắt, vợ chồng anh H muốn góp tiền nuôi bố, mẹ nhưng các cụ không nhận. Anh H và chị M không có hành vi vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật trong việc cư xử với bố, mẹ và anh, chị, em để bà con nhân dân phản ứng trong dư luận. Đối với bà con, lối xóm, anh H, chị M đều sống hòa đồng, cư xử đúng mực.
Bà Hoàng Thị Hồng N trưởng văn phòng C trình bày: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho là bà Giáp Thị S và ông Nguyễn Văn H1, địa chỉ Thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang và bên nhận tặng cho là ông Nguyễn Văn H, địa chỉ thôn N, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang ký tại phòng C1 - tỉnh Bắc Giang. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên hiện đang lưu trữ tại văn phòng C. Văn phòng công chứng Hoàng Thị Hồng N cung cấp bản sao Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên cho Tòa án. Do bận công việc, bà N đề nghị vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm đã ra quyết định thẩm định tài sản, ra quyết định định giá tài sản.
Về kết quả thẩm định tài sản xác định, thửa đất số 179, tờ bản đồ số 5, nay là thửa đất số 28, tờ bản đồ số 41 tại tổ dân phố P, phường D. Diện tích đất đo đạc theo hiện trạng sử dụng là 209,6m². Tài sản trên đất có 01 ngôi nhà 3 tầng diện tích sàn mỗi tầng là 81,4m²; 01 bán mái lợp tôn để xe có diện tích 20,1m².
Kết quả định giá tài sản:
Về đất: Theo quyết định số 72/2021/QĐ-UBND ngày 21/12/2021 của UBND tỉnh B giá đất ở là 6.500.000 đồng/01m², đất nông nghiệp là 55.000 đồng/01m². Theo giá chuyển nhượng tại địa phương, giá đất ở là 15.000.000 đồng/01m², giá đất nông nghiệp là 7.500.000 đồng/01m².
Về tài sản trên đất: Nhà ở 3 tầng trị giá 2.817.500 đồng/01 m² x 81,4m² x 3 tầng = 688.033.500 đồng; Bán mái lợp tôn: 510.000 đồng/01m²x 20,1m² = 10.251.000 đồng.
Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 20/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang, đã quyết định: - Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 điều 157 khoản 1 điều 165; điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các điều 121, 122, 123, 124, 125; 465; 467; 470 của BLDS năm 2005. Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về miến, giảm, mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Giáp Thị S về việc tuyên hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 12/4/2013 giữa ông Nguyễn Văn H1, bà Giáp Thị S và anh Nguyễn Văn H đối với thửa đất số 179, tờ bản đồ số 05, diện tích 212,4m² tại thôn N, xã D, thành phố B (nay là thửa đất số 28, tờ bản đồ số 41 tại tổ dân phố P, phường D, thành phố B), được phòng C1 tỉnh Bắc Giang công chứng số 155/2013, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Giáp Thị S về việc tuyên hủy văn bản thỏa thuận giữa anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Hải M lập ngày 03/11/2020.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Giáp Thị S đòi anh Nguyễn Văn H, chị Nguyễn Thị Hải M trả lại thửa đất số 179, tờ bản đồ số 5, diện tích 212,4m² (nay là thửa đất số 28, tờ bản đồ số 41 tại tổ dân phố P, phường D, thành phố B).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Ngày 25/7/2023, bà Giáp Thị S kháng cáo bản án, với nội dung đề nghị hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
Ngày 03/8/2023, ông Nguyễn Văn H1 kháng cáo bản án, với nội dung đề nghị hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
Ngày 17/8/2023, ông H1 có đơn xin rút kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Nguyên đơn bà Giáp Thị S trình bày: Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp là do cha ông để lại cho vợ chồng bà, năm 2013 bà tách đất thành 3 phần: một phần của vợ chồng bà, một phần cho vợ chồng con trai anh H3 và một phần cho con trai vợ chồng anh H. Khi cho tặng có tiến hành làm thủ tục theo quy định tại UBND phường D. Do anh H không nghe lời vợ chồng bà nên giờ bà không cho nữa, bà đề nghị anh H trả lại diện tích đất cho bà để vợ chồng bà làm nhà thờ.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Hải M trình bày: Bà S cho vợ chồng ông bà diện tích đất tranh chấp là tự nguyện, năm 2013 vợ chồng ông bà đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện đã xây nhà trên đất. Ông H và bà M không đồng ý với yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của bà S.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của BLTTDS, các đương sự đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của bà S, ông H1, phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 1 Điều 312, khoản 1 Điều 308 BLTTDS đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Nguyễn Văn H1, không chấp nhận kháng cáo của bà Giáp Thị S, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 20/7/2023 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà S do bà S là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Văn H1, Văn phòng công chứng Hoàng Thị Hồng N là những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, xét thấy ông H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, Văn phòng công chứng Hoàng Thị Hồng N đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. HĐXX căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 296 BLTTDS tiếp tục tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[2]. Xét kháng cáo của ông H1, bà S, HĐXX thấy:
2.1. Đối với kháng cáo của ông Nguyễn Văn H1: Ngày 03/8/2023 ông H1 nộp đơn kháng cáo sau đó ngày 17/8/2023 ông H1 đã có đơn xin rút đơn kháng cáo, việc rút đơn kháng cáo của ông H1 là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc, cần chấp nhận yêu cầu này của ông H1, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông H1 theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 312 BLTTDS.
2.2. Đối với kháng cáo của bà Giáp Thị S:
- Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất: Theo lời khai của các đương sự, kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và tài liệu, chứng cứ thu thập được cho thấy thửa đất số 179, tờ bản đồ số 5 tại thôn N, xã D, thành phố B (nay là thửa đất số 28, tờ bản đồ số 41 tại địa chỉ số nhà H, đường L, tổ dân phố P, phường D, thành phố B) trước đây thuộc thửa đất số 85, tờ bản đồ số 05, tại thôn N, xã D là tài sản của ông Nguyễn Văn H1 và bà Giáp Thị S đã được cha, ông để lại. Ông H1, bà S đã được UBND thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu số AÐ458495 ngày 30/11/2005 và ngày 23/01/2013 được cấp lại theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 068145. Trên thửa đất này, ngoài vợ chồng ông H1, bà S thì từ trước năm 2010, các con trai của ông, bà là vợ chồng anh H, chị M đã xây dựng một ngôi nhà 3 tầng, vợ chồng anh H3 xây dựng một ngôi nhà 2 tầng. Ngày 14/3/2013, ông H1, bà S đã có đơn xin tách thửa đất trên thành ba thửa gồm: thửa đất số 179, diện tích 212,4m²; thửa đất số 180, diện tích 217,1m², thửa 85, diện tích 132,1m². Ngày 12/4/2013, ông H1, bà S đã tặng cho các con quyền sử dụng đất, trong đó thửa đất số 179, tờ bản đồ số 5 tặng cho anh Nguyễn Văn H, thửa đất số 180, tờ bản đồ số 5 tặng cho anh Nguyễn Văn H3. Ông H1, bà S đã cùng các con lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tại Phòng C1, tỉnh Bắc Giang. Anh H, anh H3 đã được UBND thành phố B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hợp đồng trên và mỗi người đã quản lý, sử dụng đất của mình ổn định từ đó đến nay.
Xét hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 12/4/2013 giữa ông Nguyễn Văn H1, bà Giáp Thị S và anh Nguyễn Văn H đối với thửa đất số 179, tờ bản đồ số 05, diện tích 212,4m² tại thôn N, xã D, thành phố B, được phòng C1 tỉnh Bắc Giang công chứng số 155/2013, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD thì thấy: Về chủ thể của hợp đồng là ông Nguyễn Văn H1, bà Giáp Thị S là người có quyền sử dụng đối với thửa đất tặng cho anh H. Ông H1, bà S và anh H đều có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, việc tặng cho trên cơ sở tự nguyện, thửa đất nêu trên không có tranh chấp với bất cứ ai, mục đích của hợp đồng không trái đạo đức, không trái pháp luật. Hợp đồng tặng cho được thiết lập bằng văn bản, được công chứng tại Phòng C1, tỉnh Bắc Giang. Sau khi được tặng cho, anh Nguyễn Văn H đã đăng ký quyền sử dụng đất và ngày 07/5/2013 UBND thành phố B đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B0 209369. Như vậy, hợp đồng trên đã đảm bảo thực hiện theo đúng quy định của các điều 121, 122, 123, 124, 465; 467 của BLDS năm 2005 (nay là điều 116, 117, 118, 119, 457; 459 của BLDS năm 2015). Kể từ thời điểm đăng ký thì hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất trên đã có hiệu lực pháp luật.
Xét về điều kiện của hợp đồng: Trong nội dung của hợp đồng, tại điều 2 nêu “1. bên A có nghĩa vụ giao thửa đất nêu tại điều 1 của hợp đồng này và giấy tờ về quyền sử dụng đất cho bên B vào thời điểm hợp đồng này được công chứng viên chứng nhận. 2. Bên B có nghĩa vụ đăng ký quyền, sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”. Tại điều 3 của hợp đồng nêu “Thuế, lệ phí liên quan đến việc tặng cho quyền sử dụng đất theo hợp đồng này do bên B chịu trách nhiệm”. Theo điều kiện đã nêu trong hợp đồng như trên thì các bên giao kết hợp đồng đều đã thực hiện đúng. Ngoài các nội dung trên, giữa ông H1, bà S và anh H không thỏa thuận về bất cứ điều kiện nào khác, không thỏa thuận về trách nhiệm, nghĩa vụ hoặc điều kiện để hủy bỏ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định tại điều 125, 470 của Bộ luật dân sự năm 2005.
Bà S khai anh H và chị M có hành vi vô đạo đức, không thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ của con với cha, mẹ, nhưng ngoài lời khai trên thì bà S không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh. Bản án sơ thẩm đã xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà S là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm bà S không xuất trình được chứng cứ nào mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Vì vậy kháng cáo của bà S không được chấp nhận.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà S, ông H1 do ông H1, bà S là người cao tuổi.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 312, khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ Luật tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông Nguyễn Văn H1.
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Giáp Thị S. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 46/2023/DS-ST ngày 20/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn H1 và bà Giáp Thị S.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 05/2024/DS-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và kiện đòi quyền sử dụng đất
- Số bản án: 05/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và kiện đòi quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
