Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HS-ST

Ngày 10-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Sự

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Nga

Bà Phạm Thị Bích Ngọc

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đức - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 173/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 747/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2023 đối với bị các bị cáo:

  1. Phạm Thị S, tên gọi khác: Không, sinh năm 1974 tại Hải Phòng. Nơi thường trú: Số B T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng, nơi ở hiện tại: Số A Chùa H, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L và bà Ngô Thị T; chồng là Vũ Huy T1 và có 02 con; nhân thân: Có 01 tiền án đã được xoá án tích: Tại bản án số 01/2021/HSST ngày 06/01/2021, Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, chấp hành xong hình phạt ngày 14/02/2022; tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 13/6/2023; tạm giam ngày 19/6/2023; có mặt.

  2. Trần Thanh T2, tên gọi khác: Không, sinh năm 1987 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số C V, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc H và bà Trần Thúy N; vợ là Cao Thị D và có 02 con; có 01 tiền án: Án số 51/2021/HSST ngày 19/8/2021, Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/5/2022, thi hành án phí hình sự sơ thẩm ngày 24/01/2022 (chưa xoá án tích); tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 11/6/2023; tạm giam ngày 19/6/2023; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 55 phút ngày 11/6/2023, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận L làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực trước cửa nhà số D L, phường H, quận L, Hải Phòng thì phát hiện Trần Thanh T2 đang điều khiển xe máy biển kiểm soát 16N7-5450 có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy. Quá trình kiểm tra, T2 đưa từ tay trái xuống mặt đất sát chân của T2 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ, kích thước 2,5 x 02 cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy (mẫu số 01) và 01 túi nilon màu trắng mép viền xanh, kích thước 02 x 1,5cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy (mẫu số 02). Tổ công tác đã thu giữ 02 túi nilon trên, 01 xe máy biển kiểm soát 16N7 - 5450, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen và số tiền 300.000 đồng của T2. Sau đó, đưa T2 cùng toàn bộ vật về trụ sở Công an quận lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 495/KL-KTHS(MT) ngày 13/6/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng của mẫu số 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,40 gam, loại Methamphetamine. Tinh thể màu trắng của mẫu số 02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,29 gam, loại Methamphetamine.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test thử đối với T2, kết quả: dương tính với test thử chất ma túy Methamphetamine.

Quá trình điều tra, Trần Thanh T2 khai nhận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 11/6/2023, T2 một mình điều khiển xe máy biển kiểm soát 16N7 - 5450 đến nhà số A Chùa H, phường H, quận L, Hải Phòng để mua ma túy đá của Phạm Thị S nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Khi đến nhà số A Chùa H, T2 dựng xe ở bên ngoài rồi đi vào trong nhà. Lúc này, trong nhà chỉ có một mình S. T2 hỏi mua của S 500.000 đồng ma tuý đá và đặt tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng lên mặt bàn uống nước. S lấy ở bên cạnh chỗ ngồi ra 01 túi nilon màu trắng mép viền đỏ, kích thước 2,5 x 02 cm và 01 túi nilon màu trắng mép viền xanh, kích thước 02 x 1,5cm, bên trong đều chứa ma túy đá đưa cho T2. T2 nhận 02 túi nilon chứa ma túy đá cầm ở tay trái rồi điều khiển xe đi đến khu vực trước cửa nhà số D L, phường H, quận L, Hải Phòng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Ngoài ra, T2 còn khai: T2 đã 03 lần mua ma tuý đá của S trước khi bị bắt. Do thời gian đã lâu nên T2 chỉ nhớ được lần gần nhất là vào khoảng 01 giờ ngày 11/6/2023. T2 sử dụng số điện thoại 0975.062.xxx để liên lạc đến số điện thoại 0815.890.xxx của S để hỏi mua ma túy. T2 lưu trong danh bạ điện thoại là X) nhưng S không nghe máy. Sau đó, T2 đến trước cửa nhà số A Chùa Hàng và mua 500.000 đồng ma tuý đá của S bằng cách đưa tiền rồi nhận ma túy qua cửa sổ tầng 1. T2 đã sử dụng một mình hết số ma túy này.

Tiến hành rà soát camera xung quanh nhà số A Chùa H, thu giữ 01 thẻ nhớ có nội dung liên quan đến vụ án. Tại hình ảnh trích xuất camera thể hiện T2 đến nhà số A Chùa Hàng vào hồi 0h34'-0h53' ngày 11/6/2023 và 19h47' ngày 11/6/2023.

Ngày 13/6/2023, Cơ quan điều tra thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp nơi Phạm Thị S ở, nhà số A Chùa H, phường H, quận L, Hải Phòng, thu giữ:

  • Tại bậc thềm bên phải cửa vào tầng 1 có: 01 khẩu trang màu xám được gói lại, bên trong có 04 vỏ túi nilon gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng, mép đóng mở màu trắng, kích thước 3,5 x 03 cm; 01 vỏ túi nilon màu trắng, mép đóng mở màu đỏ, 04 x 07 cm; 01 vỏ túi nilon màu trắng, mép đóng ở màu đỏ, 1,5 x 02 cm; 01 vỏ túi nilon màu trắng, mép đóng mở màu xanh, kích thước 01 x 1,5cm; bên trong các vỏ túi nilon đều có chất tinh thể bám dính màu trắng.

  • Thu trong túi xách màu đen S đang đeo trên người: số tiền 1.920.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng. T3 trong túi xách màu nâu, treo sát tường trên tầng gác lửng có: 01 túi nilon màu trắng, mép đóng mở màu đỏ kích thước 07 x 13cm, bên trong chứa các mảnh viên nén màu xanh và chất bột màu xanh.

  • Thu trong 01 túi vải màu trắng, treo sát tường trên gác lửng có: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá (không có chất bám dính) và 02 ống hút nhựa có một đầu vát nhọn có chiều dài lần lượt là: 11,5 cm và 8,5cm.

Tại Kết luận giám định số 512/KL-KTHS(MT) ngày 19/6/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:

  • Tinh thể bám dính trong 04 vỏ túi nilon của mẫu khám xét 1, gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma tuý bám dính.

  • Chất bột màu xanh và các mảnh vỡ viên nén màu xanh của mẫu khám xét 2, gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 1,34 gam, loại: MDMA.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test thử đối với S, kết quả: âm tính với test thử các chất ma túy.

Tại biên bản kiểm tra chi tiết điện thoại thu giữ của S, thể hiện S nhắn tin đến số điện thoại 0776.654.xxx để hỏi mua ma túy. Tin nhắn giữa S và số điện thoại 0868.662.xxx của “Nghĩa ngọng", tin nhắn zalo giữa tài khoản của S với tài khoản “Tiến Bợm”, tài khoản “Ha Hoang", tin nhắn telegram giữa tài khoản của S với tài khoản 0896.621.993 của “E Đường Ngõ H" có liên quan đến hỏi mua ma túy của S.

Quá trình điều tra, Phạm Thị S khai nhận phù hợp với T2 về việc S đã nhận 500.000 đồng của T2 và bán cho T2 02 túi nilon, bên trong chứa ma túy đá vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 11/6/2023 tại nhà số A Chùa Hàng. Về nguồn gốc của 02 túi ma túy đá là S mua của 01 người nữ giới không quen biết vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 11/6/2023 tại khu vực đường T, quận L, Hải Phòng. Số tiền 500.000 đồng có được do bán ma tuý cho T2, S đã chi tiêu cá nhân hết. Sâm chỉ bán ma tuý cho T2 một lần vào 19 giờ 30 phút ngày 11/6/2023.

Ngoài ra, S còn khai: Vào một buổi tối trước tháng 6/2023, khi S đang ở nhà 101 Chùa Hàng thì thấy lực lượng Công an đang bắt tội phạm ma tuý gần nhà nên đi ra xem. Sau khi lực lượng Công an và người dân rời đi thì S thấy dưới đất có 01 túi nilon màu xanh chứa các mảnh viên nén và chất bột màu xanh. Biết là ma tuý thuốc lắc nên S nhặt mang về nhà cất giấu vào trong túi xách màu nâu. Sâm cất giấu ma tuý thuốc lắc không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất hay tổ chức cho người khác sử dụng trái phép ma tuý. Do thời gian đã lâu nên S cũng quên đi, cho đến ngày 13/6/2023 thì lực lượng Công an khám xét và thu giữ số ma túy này của S. 04 vỏ túi nilon và bộ dụng cụ sử dụng ma tuý lực lượng Công an thu giữ ngày 13/6/2023 không phải là của Sâm mà của Đỗ Hữu N1 -người chung sống với S như vợ chồng tại nhà số A Chùa Hàng.

Quá trình khám xét khẩn cấp, lực lượng Công an đã thu giữ 01 điện thoại Iphone của S. Kiểm tra chi tiết điện thoại, thấy có tin nhắn điện thoại, tin nhắn qua ứng dụng zalo, telegram của người hỏi mua ma túy của S nhưng S không bán và cũng có tin nhắn của S hỏi mua ma túy nhưng người được hỏi không bán ma túy cho S.

Vật chứng chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân: 03 phong bì niêm phong số ma túy và vỏ bao gói còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen; 01 túi xách màu đen và 01 túi xách màu nâu.

Chuyển số tiền 1.920.000 đồng thu giữ của bị cáo Phạm Thị S từ tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L sang tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Lê Chân tại Kho bạc Nhà nước H1.

Chuyển số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Thanh T2 từ tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L sang tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Lê Chân tại Kho bạc Nhà nước H1.

Đối với người nữ giới bán ma tuý cho Phạm Thị S ngày 11/6/2023, S khai không biết họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở điều tra, làm rõ.

Đối với những người sử dụng số điện thoại hoặc tài khoản mạng xã hội Zalo và T4 để nhắn tin với Phạm Thị S có dấu hiệu liên quan đến việc mua, bán trái phép chất ma tuý, S khai không mua, không bán trái phép chất ma túy cho những người này. Quá trình thu giữ thư tín điện tín các số điện thoại và tiến hành xác minh những người này vắng mặt tại địa phương hoặc tại địa phương không có người này ăn ở sinh hoạt nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở điều tra, làm rõ.

Đối với Đỗ Hữu N1, S khai chung sống với S như vợ chồng tại số 101 Chùa Hàng nhưng không đăng ký kết hôn. N1 không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của S. Quá trình xác minh, N1 vắng mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở điều tra, làm rõ.

Quá trình điều tra, chưa xác định được 01 khẩu trang màu xám, bên trong có 04 vỏ túi nilon gồm: 01 vỏ túi nilon màu trắng, mép đóng mở màu trắng, kích thước 3,5 x 03 cm; 01 vỏ túi nilon màu trắng, mép đóng mở màu đỏ, 04 x 07 cm; 01 vỏ túi nilon màu trắng, mép đóng ở màu đỏ, 1,5 x 02 cm; 01 vỏ túi nilon màu trắng, mép đóng mở màu xanh, kích thước 01 x 1,5cm; bên trong các vỏ túi nilon đều có chất tinh thể bám dính màu trắng nhưng không đủ điều kiện xác định khối lượng và 01 túi vải màu trắng, bên trong có: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá (không có chất bám dính) và 02 ống hút nhựa có một đầu vát nhọn có chiều dài lần lượt là: 11,5 cm và 8,5cm thuộc sở hữu của ai nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Về việc Trần Thanh T2 khai đã nhiều lần mua ma túy của Phạm Thị S, ngoài lời khai của T2, không còn chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ xác định ST2 “phạm tội 02 lần trở lên”.

Quá trình điều tra, xác minh 01 xe máy biển kiểm soát 16N7-5450 thuộc sở hữu hợp pháp của chị Trần Thúy N (mẹ đẻ T2), khi cho T2 mượn xe, chị N không biết T2 sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội về ma túy. Cơ quan điều tra đã trả xe lại cho chị N.

Bản cáo trạng 175/CT- VKSLC ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố Phạm Thị S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; truy tố Trần Thanh T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Phạm Thị S, bị cáo Trần Thanh T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố. Các bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng số 175/CT-VKS ngày 27/11/2023 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật và ấn định mức hình phạt đối với từng bị cáo:

  1. Đối với bị cáo Phạm Thị S: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị S mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là từ 60 đến 72 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  2. Đối với bị cáo Trần Thanh T2: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử: Tuyên bị cáo Trần Thanh T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Thanh T2 24 đến 30 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  • Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong lại trong các bao bì thư theo niêm phong số 495MT/PC09; 495MT-A/PC09 và 512MT/PC09 của phòng K Công an thành phố H; tịch thu, tiêu huỷ 01 túi xách màu nâu, 01 túi xách màu đen thu giữ của bị cáo Phạm Thị S. Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE có số IMEI: 357300097760915, IMEI 2: 357300097359825 kèm theo 01 SIM có số ICCID: 89840200010988288155 thu giữ của bị cáo Phạm Thị S. Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, có số IMEI: 869035049585793 và 869035049585785 thu giữ của bị cáo Trần Thanh T2. Trả lại cho bị cáo Phạm Thị S số tiền 1.920.000 đồng và trả lại cho bị cáo Trần Thanh T2 300.000 đồng.

  • Buộc bị cáo Phạm Thị S nộp lại số tiền 500.000 đồng S có được do việc bán ma tuý.

  • Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Phạm Thị S, Trần Thanh T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  • Về tố tụng:

    [1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan này trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

  • Về nội dung:

    • [2] Căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo:

      • Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các Bản kết luận giám định số 495/KL-KTHS(MT) ngày 13/6/2023; số 512/KL-KTHS(MT) ngày 19/6/2023 của Phòng K Công an thành phố H, phù hợp với các chứng cứ và tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ xác định:

      • Đối với bị cáo Phạm Thị S: Ngày 11/6/2023, tại nơi ở của Phạm Thị S địa chỉ Số A Chùa H, phường H, quận L, Hải Phòng bị cáo Phạm Thị S có hành vi bán ma tuý cho Trần Thanh T2 02 gói ma tuý loại Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,69 gam với số tiền là 500.000 đồng. Và ngoài ra, thu giữ tại nơi ở của Phạm Thị S 1,34 gam MDMA do Sâm nhặt được mang về cất giữ không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất hay tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó, bị cáo Phạm Thị S đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

      • Đối với bị cáo Trần Thanh T2: Ngày 11/6/2023, sau khi mua 2 gói ma tuý của Phạm Thị S có tổng khối lượng là 0.69 gam Methamphetamine với số tiền là 500.000 đồng, trên đường mang về để sử dụng thì T2 bị phát hiện và bắt giữ. Do đó, bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

      Như vậy, Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ đúng quy định pháp luật.

    • [3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, không những đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, mà còn gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, là nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

    • [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

      • Xét, đối với bị cáo Phạm Thị S có 01 tiền án xong đã được xoá án tích nay phạm tội không được coi là tái phạm nên bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng thể hiện là nhân thân xấu.

      • Đối với bị cáo Trần Thanh T2: Tại bản án số 51/2021/HSST ngày 19/8/2021, bị cáo bị Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 16 tháng từ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo chưa được xoá án tích, nay tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

    • [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo. Do đó, các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    • [6] Về quyết định hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt đối với các bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 điều 249 và khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Và xét đối với bị cáo S cần áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 2 tội như đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

    • [7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 các Điều 249, Điều 251 của Bộ luật hình sự, hành vi phạm tội có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với mức hình phạt từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

    • [8] Về xử lý vật chứng: Tại biên bản giao nhận vật chứng của vụ án ngày 27 tháng 11 năm 2023 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và các uỷ nhiệm chi ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại Kho bạc nhà nước L1, thể hiện Chi cục thi hành án dân sự quận L đang quản lý, vật chứng gồm:

      • 03 bao bì thư theo niêm phong số 495MT/PC09; 495MT-A/PC09 và 512MT/PC09 của phòng K Công an thành phố H. Xác định đây là những vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Do đó, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.

      • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE có số IMEI: 357300097760915, IMEI 2: 357300097359825 kèm theo 01 SIM có số ICCID: 89840200010988288155 thu giữ của bị cáo Phạm Thị S, xác định đây là là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

      • Đối với 01 túi xách màu nâu và 01 túi xách màu đen thu giữ của bị can Phạm Thị S, xác định đây là vật chứng không sử dụng được. Do đó, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.

      • Đối với 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, có số IMEI: 869035049585793 và 869035049585785 thu giữ của bị cáo Trần Thanh T2, xác định đây là là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

      Buộc bị cáo Phạm Thị S nộp lại số tiền 500.000 đồng S có được do việc bán ma tuý.

      • Đối với số tiền 1.920.000 đồng thu giữ của bị cáo Phạm Thị S không liên quan đến việc phạm tội do đó căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

      • Đối với số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo Trần Thanh T2 không liên quan đến việc phạm tội do đó căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    • [9] Về án phí: Các bị cáo Phạm Thị S, Trần Thanh T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

    • [10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Phạm Thị S, Trần Thanh T2 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị S 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 60 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 13 tháng 6 năm 2023.

  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh T2 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 11 tháng 6 năm 2023;

  3. Về Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

    • Tịch thu, tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định đã được niêm phong lại trong các bao bì thư theo niêm phong số 495MT/PC09; 495MT-A/PC09 và 512MT/PC09 của phòng K Công an thành phố H.

    • Tịch thu, tiêu huỷ 01 túi xách màu nâu và 01 túi xách màu đen thu giữ của bị can Phạm Thị S

    • Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE có số IMEI: 357300097760915, IMEI 2: 357300097359825 kèm theo 01 SIM có số ICCID: 89840200010988288155 thu giữ của bị cáo Phạm Thị S.

    • Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, có số IMEI: 869035049585793 và 869035049585785 thu giữ của bị cáo Trần Thanh T2.

    • Buộc bị cáo Phạm Thị S nộp lại số tiền 500.000 đồng S có được do việc bán ma tuý.

    • Trả lại cho bị cáo Phạm Thị S số tiền 1.920.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    • Trả lại cho bị cáo Trần Thanh T2 số tiền 300.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 11 năm 2023 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng và các uỷ nhiệm chi ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại Kho bạc nhà nước L1).

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Phạm Thị S, bị cáo Trần Thanh T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • Bị cáo, UBND nơi bị cáo cư trú;
  • VKSND thành phố;
  • VKSND quận Lê Chân;
  • Công an quận Lê Chân;
  • Phòng PV06; PC10;
  • THA hình sự;
  • Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • Sở tư pháp;
  • Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Sự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự: mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 05/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị S - Phạm Thanh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger