Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HS-ST

Ngày: 10 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Công Gia.
  2. Ông Nguyễn Hồng Nguyên.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 152/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Việt H – sinh năm: 1995, tại Hà Nam; Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tăng T – 1969 và bà Trần Thị Xuân H1 – 1975; Vợ: K' Bơ – 2001; Có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Hiện đang tại ngoại. (có mặt)
  2. Nguyễn Việt H2 – sinh năm: 1978, tại Hà Nam; Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh P – 1944 và bà Trần Thị L – 1944; Vợ: Đỗ Thị L1 – 1980; Có 02 con: Lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Hiện đang tại ngoại. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Nguyễn Thị Đ – sinh năm: 1971. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ F, khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Bà Nguyễn Thị Mai G – sinh năm: 1966. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Bà Trương Quang Ngọc C – sinh năm: 1981. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Bà Huỳnh Thị L2 – sinh năm: 1968. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Khu phố F, đường N, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  • + Bà Phạm Thị T1 – sinh năm: 1975. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Bà Trần Thị Thanh V – sinh năm: 1966. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Tổ G, ấp N, xã P, huyện T, Đồng Nai.
  • + Chị Vũ Thị T2 – sinh năm: 1987. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: C Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Chị Trần Thị Mỹ T3 – sinh năm: 1988. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  • + Bà Võ Thị T4 – sinh năm: 1982. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn I, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  • + Bà Trần Phú Hà T5 – sinh năm: 1978. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  • + Chị Lâm Thị Như N – sinh năm: 1991. (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ khoảng đầu năm 2022 đến tháng 9/2022, Nguyễn Việt H2Nguyễn Việt H thực hiện việc cho một số người dân trên địa bàn huyện T, tỉnh Đồng Nai vay tiền với lãi suất cao. Cách thức cho vay của H2, H là khi có người có nhu cầu vay tiền thì H2, H sẽ đến gặp và thỏa thuận về lãi suất, tiền phí làm hồ sơ.

Các bị cáo H2H thường cho người khác vay tiền trong thời gian từ 21 ngày, 25 ngày hoặc 30 ngày với mức lãi suất như sau: Nếu số tiền vay là 5.000.000đ thì mỗi ngày sẽ thu tiền lãi và gốc là 300.000đ trong 21 ngày; 10.000.000đ thì mỗi ngày sẽ thu tiền lãi và gốc là 400.000đ (nếu vay 30 ngày) hoặc 500.000đ (nếu vay 25 ngày); 20.000.000đ thì mỗi ngày sẽ thu tiền lãi và gốc là 1.000.000đ trong 25 ngày. Về phí vay tiền, tùy từng trường hợp H2H sẽ thu phí vay tiền từ 250.000đ, 500.000đ đến 1.000.000đ. Có trường hợp H2H cùng thực hiện hành vi cho vay tiền chung; ngoài ra mỗi bị cáo còn tự mình thực hiện hành vi cho vay tiền riêng.

- Nguyễn Việt H2Nguyễn Việt H cùng nhau cho vay tiền với lãi suất cao, cụ thể:

Nguyễn Thị Đ vay 04 lần, mỗi lần 10.000.000đ, thu phí vay tiền ở lần vay thứ nhất 600.000đ. Ở lần vay thứ nhất, bà Đ đã trả lãi và phí 3.200.000đ trong thời gian 21 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 22,60 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 21 ngày là 115.068đ. H2H đã thu lợi bất chính số tiền là 3.200.000₫ – 115.068₫ = 3.084.932đ. Ở lần vay thứ hai, bà Đ đã trả lãi 2.600.000đ trong thời gian 21 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 22,60 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 21 ngày là 115.068đ. H2H đã thu lợi bất chính số tiền là 2.600.000₫ – 115.068đ = 2.484.932đ. Ở lần vay thứ ba, tương tự lần vay thứ hai H2H đã thu lợi bất chính số tiền là 2.484.932đ. Ở lần vay thứ tư, bà Đ đã trả lãi 866.667đ trong thời gian 07 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 22,60 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 07 ngày là 38.356đ. H2H đã thu lợi bất chính số tiền là 866.667₫ – 38.356đ = 828.311đ. Tổng 04 lần cho vay, H2H thu lợi bất chính số tiền là 8.883.105₫.

Như vậy, Nguyễn Việt H2Nguyễn Việt H phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền thu lợi bất chính chung là 8.883.105₫.

- Nguyễn Việt H2 thực hiện việc cho vay tiền với lãi suất cao, cụ thể:

+ Bà Nguyễn Thị Mai G vay 10 lần.

02 lần đầu, mỗi lần vay 10.000.000đ. Lần thứ nhất, bà G đã trả lãi 2.500.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 136.986đ. H2 đã thu lợi bất chính số tiền là 2.500.000₫ – 136.986đ = 2.363.014đ. Lần thứ hai, tương tự lần thứ nhất, H2 đã thu lợi bất chính số tiền là 2.363.014₫.

08 lần tiếp theo, mỗi lần vay 20.000.000đ. Lần thứ nhất, bà G đã trả lãi 5.000.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 273.973đ. H2 đã thu lợi bất chính số tiền là 5.000.000₫ – 273.973đ = 4.726.027đ. Ở 07 lần tiếp theo, tương tự lần thứ nhất H2 đã thu lợi bất chính mỗi lần số tiền là 4.726.027đ.

Tổng 10 lần cho vay, H2 thu lợi bất chính số tiền là 42.534.247đ.

+ Bà Trương Quang Ngọc C vay 10.000.000đ, thu phí vay tiền 1.000.000₫. Bà C đã trả lãi và phí 2.200.000đ trong thời gian 12 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 12 ngày là 65.753đ. H2 đã thu lợi bất chính số tiền là 2.200.000₫ – 65.753₫ = 2.134.247₫.

+ Bà Huỳnh Thị L2 vay 04 lần, mỗi lần 5.000.000đ. Ở lần vay thứ nhất, bà L2 đã trả lãi 1.300.000đ trong thời gian 21 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 22,60 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 21 ngày là 57.534đ. H2 đã thu lợi bất chính số tiền là 1.300.000₫ – 57.534đ = 1.242.466đ. Ở lần vay thứ hai và thứ ba, tương tự lần vay thứ hai H2 đã thu lợi bất chính mỗi lần số tiền là 1.242.466đ. Ở lần vay thứ tư, bà L2 đã trả lãi 495.238đ trong thời gian 08 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 22,60 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 08 ngày là 21.918đ. H2 đã thu lợi bất chính số tiền là 495.238₫ – 21.918đ = 473.320đ. Tổng 04 lần cho vay, H2 thu lợi bất chính số tiền là 4.200.718₫.

+ Bà Phạm Thị T1 vay 02 lần, mỗi lần 5.000.000đ, phí vay tiền mỗi lần 500.000đ. Ở lần vay thứ nhất, bà T1 đã trả lãi và phí vay tiền 1.750.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 68.493đ. H2 đã thu lợi bất chính số tiền là 1.750.000₫ – 68.493đ = 1.681.507₫. Ở lần vay thứ hai, bà T1 đã trả lãi và phí vay tiền 650.000đ trong thời gian 03 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 03 ngày là 8.219đ. H2 đã thu lợi bất chính số tiền là 650.000đ – 8.219đ = 641.781đ. Tổng 02 lần cho vay, H2 thu lợi bất chính số tiền là 2.323.288đ.

+ Bà Võ Thị T4 vay 03 lần, mỗi lần 10.000.000đ, lần thứ nhất thu phí vay tiền 1.000.000đ, lần thứ hai và thứ ba thu phí vay tiền mỗi lần 500.000đ. Lần thứ nhất, bà T4 đã trả lãi và phí 3.500.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 136.986đ. H2 đã thu lợi bất chính số tiền là 3.500.000₫ – 136.986đ = 3.363.014đ. Lần thứ hai, bà T4 đã trả lãi và phí 3.000.000₫ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 136.986đ. H2 đã thu lợi bất chính số tiền là 3.000.000₫ – 136.986đ = 2.863.014đ. Lần thứ ba, tương tự lần thứ hai, H2 đã thu lợi bất chính số tiền 2.863.014₫. Tổng 03 lần cho vay, H2 thu lợi bất chính số tiền là 9.089.041đ.

Như vậy, với việc cho 05 người trên vay tiền, Nguyễn Việt H2 đã thu lợi bất chính số tiền 60.281.539đ. Ngoài ra, Nguyễn Việt H2 còn phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền 8.883.105đ là số tiền thu lợi bất chính khi H2H cùng nhau cho bà Nguyễn Thị Đ vay tiền. Tổng cộng, Nguyễn Việt H2 phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền thu lợi bất chính là 69.164.644₫.

- Nguyễn Việt H thực hiện việc cho vay tiền với lãi suất cao, cụ thể:

+ Bà Trần Thị Thanh V vay 06 lần. Lần thứ nhất vay 10.000.000đ, thu phí vay tiền 500.000đ. Bà V đã trả lãi và phí 3.000.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 136.986đ. H đã thu lợi bất chính số tiền là 3.000.000₫ – 136.986đ = 2.863.014đ. Năm lần tiếp theo, mỗi lần vay 20.000.000đ, thu phí mỗi lần 500.000đ. Lần thứ hai, bà V đã trả lãi và phí 5.500.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 273.973đ. H đã thu lợi bất chính số tiền là 5.500.000₫ – 273.973đ = 5.226.027đ. Ở 04 lần tiếp theo, tương tự lần thứ hai H đã thu lợi bất chính mỗi lần số tiền 5.226.027đ. Tổng 06 lần cho vay, H thu lợi bất chính số tiền là 28.993.151₫.

+ Chị Vũ Thị T2 vay 10.000.000đ, thu phí vay tiền 500.000đ. Chị T2 đã trả lãi và phí 2.500.000đ trong thời gian 30 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 12,17 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 30 ngày là 164.384đ. H đã thu lợi bất chính số tiền là 2.500.000₫ – 164.384₫ = 2.335.616₫.

+ Chị Trần Thị Mỹ T3 vay 05 lần, mỗi lần vay 10.000.000đ. Lần thứ nhất thu phí vay tiền 500.000đ, chị T3 đã trả lãi và phí 3.000.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 136.986đ. H đã thu lợi bất chính số tiền là 3.000.000₫ – 136.986đ = 2.863.014đ. Lần thứ hai, chị T3 đã trả lãi 200.000đ trong thời gian 02 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 02 ngày là 10.959đ. H đã thu lợi bất chính số tiền là 200.000₫ – 10.959₫ = 189.041₫. Ở 03 lần vay còn lại, tương tự lần vay thứ hai, mỗi lần H thu lợi bất chính số tiền 189.041đ. Tổng 05 lần cho vay, H thu lợi bất chính số tiền là 3.619.178₫.

+ Bà Trương Quang Ngọc C vay 03 lần. Lần thứ nhất vay 10.000.000đ, thu phí vay tiền 500.000đ. Bà C đã trả lãi và phí 3.000.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 136.986đ. H đã thu lợi bất chính số tiền là 3.000.000₫ – 136.986₫ = 2.863.014đ. Lần thứ hai vay 10.000.000đ, bà C đã trả lãi 2.500.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 136.986đ. H đã thu lợi bất chính số tiền là 2.500.000₫ – 136.986đ = 2.363.014đ. Lần thứ ba vay 20.000.000đ, bà C đã trả lãi 5.000.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 273.973đ. H đã thu lợi bất chính số tiền là 5.000.000₫ – 273.973đ = 4.726.027đ. Tổng 03 lần cho vay, H thu lợi bất chính số tiền là 9.952.055₫.

+ Bà Võ Thị T4 vay 04 lần. Lần thứ nhất vay 10.000.000đ, thu phí vay tiền 1.000.000đ. Bà T4 đã trả lãi và phí 3.500.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 136.986đ. H đã thu lợi bất chính số tiền là 3.500.000₫ – 136.986đ = 3.363.014đ. Lần thứ hai vay 10.000.000₫, thu phí vay tiền 500.000đ. Bà T4 đã trả lãi và phí 3.000.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 136.986đ. H đã thu lợi bất chính số tiền là 3.000.000₫ – 136.986đ = 2.863.014đ. Lần thứ hai, thứ ba tương tự lần thứ nhất, mỗi lần H thu lợi bất chính số tiền 2.863.014đ. Tổng 04 lần cho vay, H thu lợi bất chính số tiền là 11.952.055₫.

+ Bà Huỳnh Thị L2 vay 05 lần, mỗi lần 5.000.000đ. Lần thứ nhất, bà L2 đã trả lãi và phí 1.800.000đ trong thời gian 21 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 22,60 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 21 ngày là 57.534đ. H2 đã thu lợi bất chính số tiền là 1.800.000₫ – 57.534đ = 1.742.466đ. Lần thứ hai, bà L2 đã trả lãi và phí 1.550.000đ trong thời gian 21 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 22,60 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 21 ngày là 57.534đ. H2 đã thu lợi bất chính số tiền là 1.550.000₫ – 57.534d = 1.492.466₫. Lần thứ ba, thứ tư tương tự lần thứ hai, mỗi lần H thu lợi bất chính số tiền 1.492.466đ. Lần thứ năm, bà L2 đã trả lãi và phí 745.238đ trong thời gian 8 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 22,60 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 8 ngày là 21.918đ. H2 đã thu lợi bất chính số tiền là 745.238₫ – 21.918đ = 723.320đ. Tổng 05 lần cho vay, H thu lợi bất chính số tiền là 6.943.183₫

+ Bà Trần Phú Hà T5 vay 03 lần, mỗi lần 10.000.000đ. Lần thứ nhất thu phí vay tiền 1.000.000đ. Bà T5 đã trả lãi và phí 3.500.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 136.986đ. H đã thu lợi bất chính số tiền là 3.500.000₫ – 136.986đ = 3.363.014đ. Lần thứ hai thu phí vay tiền 500.000đ. Bà T5 đã trả lãi và phí 3.000.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 136.986đ. H đã thu lợi bất chính số tiền là 3.000.000₫ – 136.986đ = 2.863.014đ. Lần thứ ba thu phí vay tiền 500.000đ. Bà T5 đã trả lãi và phí 2.000.000đ trong thời gian 15 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 15 ngày là 82.192đ. H đã thu lợi bất chính số tiền là 2.000.000đ – 82.192đ = 1.917.808đ. Tổng 03 lần cho vay, H thu lợi bất chính số tiền là 8.143.836₫.

+ Chị Lâm Thị Như N vay 03 lần, mỗi lần 10.000.000đ. Lần thứ nhất thu phí vay tiền 1.000.000đ. Chị N đã trả lãi và phí 3.500.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 136.986đ. H đã thu lợi bất chính số tiền là 3.500.000₫ – 136.986đ = 3.363.014đ. Lần thứ hai thu phí vay tiền 500.000đ. Chị N đã trả lãi và phí 3.000.000đ trong thời gian 25 ngày. Như vậy, mức lãi suất thực tế gấp 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự. Số tiền lãi hợp pháp được hưởng trong 25 ngày là 136.986đ. H đã thu lợi bất chính số tiền là 3.000.000₫ – 136.986đ = 2.863.014đ. Lần thứ ba tương tự lần thứ hai, H đã thu lợi bất chính số tiền 2.863.014đ. Tổng 03 lần cho vay, H thu lợi bất chính số tiền là 9.089.041₫.

Với việc cho 08 người trên vay tiền, Nguyễn Việt H đã thu lợi bất chính số tiền là 81.028.115đ. Ngoài ra, Nguyễn Việt H có hành vi môi giới cho Nguyễn Việt H2 cho bà Trương Quang Ngọc C và bà Huỳnh Thị L2 vay tiền với lãi suất cao thu lợi bất chính số tiền 6.334.964đ. Như vậy, Nguyễn Việt H phải cùng chịu trách nhiệm hình sự số tiền 6.334.964đ. Ngoài ra, Nguyễn Việt H còn phải chịu trách nhiệm số tiền 8.883.105đ là số tiền thu lợi bất chính khi H, H2 cùng nhau cho bà Nguyễn Thị Đ vay tiền với lãi suất cao. Như vậy, Nguyễn Việt H phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền là 96.246.184đ.

Đến hồi 16 giờ ngày 30/9/2022, tại khu D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, khi Nguyễn Việt HNguyễn Việt H2 đang thực hiện hành vi cho bà Trương Quang Ngọc C vay tiền với lãi suất cao vượt quá mức quy định thì bị Công an huyện T phát hiện lập biên bản sự việc.

Tang vật thu giữ gồm: Số tiền 11.000.000đ, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6300 màu vàng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia bàn phím màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung A51.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Việt HNguyễn Việt H2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng nội dung vụ án nêu trên.

Bản cáo trạng số 156/CT-VKSTP-ĐN ngày 06 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Nguyễn Việt HNguyễn Việt H2 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của các bị cáo. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Việt HNguyễn Việt H2 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 201, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề xuất mức án đối với:

  • - Bị cáo Nguyễn Việt H từ 90.000.000đ đến 100.000.000₫.
  • - Bị cáo Nguyễn Việt H2 từ 70.000.000đ đến 80.000.000đ.

Về biện pháp tư pháp:

  • - Đề nghị buộc các bị cáo nộp lại để sung ngân sách Nhà nước số tiền gốc bị cáo đã cho vay và số tiền lãi hợp pháp (20%/năm) vì đây phương tiện phạm tội và khoản tiền phát sinh từ tội phạm.
  • - Đề nghị buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp lại số tiền gốc chưa thanh toán để sung ngân sách Nhà nước vì đây phương tiện phạm tội.
  • - Đề nghị buộc các bị cáo trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền lãi suất vượt quá 20%/năm theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự vì đây là tiền các bị cáo chiếm đoạt của người vay tiền.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 11.000.000₫, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6300 màu vàng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia bàn phím màu đen, 01 điện thoại di động hiệu S A51 vì đây là tài sản của các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Các bị cáo nói lời sau cùng như sau: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Việt HNguyễn Việt Hoàn thành k khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:

Từ khoảng đầu năm 2022 đến tháng 9/2022, tại huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Việt H2 đã có hành vi cho vay trong giao dịch dân sự với lãi suất gấp từ 18,25 đến 22,60 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính với tổng số tiền là 69.164.644đ; Nguyễn Việt H đã có hành vi cho vay trong giao dịch dân sự với lãi suất gấp từ 12,17 đến 22,60 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính với tổng số tiền là 96.246.184đ.

Hành vi do các bị cáo Nguyễn Việt HNguyễn Việt H2 đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm hại đến chế độ quản lý của Nhà nước về tín dụng. Các bị cáo thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý. Bản thân các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó các bị cáo đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Mặc dù biết việc cho vay lãi nặng là trái pháp luật, là gây thiệt hại cho người vay bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng vì động cơ tư lợi mà không phải thông qua lao động chân chính, lợi dụng việc người đi vay tiền đang gặp hoàn cảnh khó khăn cần tiền gấp để giải quyết một số việc trong cuộc sống, ép những người vay tiền phải chịu mức lãi suất thật cao. Hành vi của các bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về tín dụng mà còn gây thiệt hại tài sản của những người vay tiền, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, xem xét các bị cáo đang nuôi con chưa thành niên là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[7]. Về hình phạt:

[7.1]. Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy không nhất thiết phải áp dụng các hình phạt tù cho các bị cáo mà áp dụng hình phạt tiền để sung vào Ngân sách Nhà nước cũng thỏa đáng, đủ tác dụng răn đe.

[7.2]. Về hình phạt bổ sung: Vì các bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính bằng hình thức phạt tiền nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8]. Về các biện pháp tư pháp:

- Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Việt H:

+ Đối với số tiền gốc bị cáo H đã cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay thực tế là 30.000.000đ. Ngoài ra, bà Huỳnh Thị L2 còn nợ H số tiền gốc là 3.095.238đ, bà Trần Phú Hà T5 còn nợ H số tiền gốc là 4.000.000đ. Xét thấy đây là phương tiện phạm tội, căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo, bà L2, bà T5 nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.

+ Đối với tổng số tiền lãi hợp pháp (20%/năm) là 3.967.123đ. Xét thấy đây là khoản tiền phát sinh từ tội phạm, căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo H nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền lãi suất vượt quá 20%/năm theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự, gồm số tiền bị cáo thu lợi khi cho vay riêng là 81.028.115đ và tiền cho vay chung cùng H2 là 8.883.105đ (mỗi bị cáo chịu trách nhiệm đối với số tiền 4.441.552đ), tổng cộng là 85.469.667đ. Xét thấy đây là tiền bị cáo H chiếm đoạt của người vay tiền. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử buộc bị cáo H trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Đối với hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Việt H2:

+ Đối với số tiền gốc bị cáo H2 đã cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay thực tế là 20.000.000đ. Ngoài ra, bà Trương Quang Ngọc C còn nợ H2 số tiền gốc là 5.200.000đ, bà Huỳnh Thị L2 còn nợ H2 số tiền gốc là 3.095.238đ, bà Phạm Thị T1 còn nợ H2 số tiền gốc là 4.400.000đ. Xét thấy đây là phương tiện phạm tội, căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo, bà C, bà L2, bà T1 nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.

+ Đối với tổng số tiền lãi hợp pháp (20%/năm) là 3.213.699đ. Xét thấy đây là khoản tiền phát sinh từ tội phạm, căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo H2 nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với số tiền lãi suất vượt quá 20%/năm theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự, gồm số tiền bị cáo thu lợi khi cho vay riêng là 60.281.539đ và tiền cho vay chung cùng H là 8.883.105đ (mỗi bị cáo chịu trách nhiệm đối với số tiền 4.441.552đ), tổng cộng là 64.723.091đ. Xét thấy đây là tiền bị cáo H2 chiếm đoạt của người vay tiền. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử buộc bị cáo Hoàn trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[9]. Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 11.000.000đ, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6300 màu vàng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia bàn phím màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung A51. Xét đây là tài sản của các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội và tiền liên quan đến tội phạm. Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

[10]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì các bị cáo Nguyễn Việt HNguyễn Việt H2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[11]. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 201; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự;
  • - Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  • - Khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Việt HNguyễn Việt H2 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt:

  • - Bị cáo Nguyễn Việt H 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng).
  • - Bị cáo Nguyễn Việt H2 90.000.000đ (Chín mươi triệu đồng).

Về các biện pháp tư pháp:

  • - Buộc bị cáo Nguyễn Việt H nộp lại số tiền 33.967.123đ (Ba mươi ba triệu chín trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm hai mươi ba đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Việt H2 nộp lại số tiền 23.213.699₫ (Hai mươi ba triệu hai trăm mười ba nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Việt H trả lại tiền cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sau, gồm:
    • + Bà Nguyễn Thị Đ số tiền 4.441.552đ (Bốn triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm năm mươi hai đồng).
    • + Bà Trần Thị Thanh V số tiền 28.993.151₫ (Hai mươi tám triệu chín trăm chín mươi ba nghìn một trăm năm mươi mốt đồng).
    • + Chị Vũ Thị T2 số tiền 2.335.616đ (Hai triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm mười sáu đồng).
    • + Chị Trần Thị Mỹ T3 số tiền 3.619.178đ (Ba triệu sáu trăm mười chín nghìn một trăm bảy mươi tám đồng).
    • + Bà Trương Quang Ngọc C số tiền 9.952.055đ (Chín triệu chín trăm năm mươi hai nghìn không trăm năm mươi lăm đồng).
    • + Bà Võ Thị T4 số tiền 11.952.055₫ (Mười một triệu chín trăm năm mươi hai nghìn không trăm năm mươi lăm đồng).
    • + Bà Huỳnh Thị L2 số tiền 6.943.183đ (Sáu triệu chín trăm bốn mươi ba nghìn một trăm tám mươi ba đồng).
    • + Bà Trần Phú Hà T5 số tiền 8.143.836đ (Tám triệu một trăm bốn mươi ba nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng).
    • + Chị Lâm Thị Như N số tiền 9.089.041₫ (Chín triệu không trăm tám mươi chín nghìn không trăm bốn mươi mốt đồng).
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Việt Hoàn t trả lại tiền cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sau, gồm:
    • + Bà Nguyễn Thị Đ số tiền 4.441.552₫ (Bốn triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm năm mươi hai đồng).
    • + Bà Nguyễn Thị Mai G số tiền 42.534.247đ (Bốn mươi hai triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng).
    • + Bà Trương Quang Ngọc C số tiền 2.134.247đ (Hai triệu một trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi bảy đồng).
    • + Bà Huỳnh Thị L2 số tiền 4.200.718đ (Bốn triệu hai trăm nghìn bảy trăm mười tám đồng).
    • + Bà Phạm Thị T1 số tiền 2.323.288đ (Hai triệu ba trăm hai mươi ba nghìn hai trăm tám mươi tám đồng).
    • + Bà Võ Thị T4 số tiền 9.089.041đ (Chín triệu không trăm tám mươi chín nghìn không trăm bốn mươi mốt đồng).
  • - Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sau phải nộp tiền sung Ngân sách Nhà nước, cụ thể:
    • + Bà Trương Quang Ngọc C số tiền 5.200.000đ (Năm triệu hai trăm nghìn đồng).
    • + Bà Huỳnh Thị L2 số tiền 6.190.476₫ (Sáu triệu một trăm chín mươi nghìn bốn trăm bảy mươi sáu đồng).
    • + Bà Phạm Thị T1 số tiền 4.400.000₫ (Bốn triệu bốn trăm nghìn đồng).
    • + Bà Trần Phú Hà T5 số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 11.000.000₫ (Mười một triệu đồng), 01 điện thoại di động hiệu Nokia 6300 màu vàng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia bàn phím màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung A51.

(Số tiền theo Lệnh thanh toán lập ngày 27/11/2023; Vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/11/2023).

Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Việt HNguyễn Việt H2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - CQCSĐT Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án – VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Mai Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 05/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger