|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI Bản án số: 05/2024/HS-ST Ngày 09 - 01 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Hưởng; Bà Mai Thị Hiền
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 197/2023/TLST- HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Thị H - Sinh ngày 10/10/1979, tại huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn P, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Xuân S; Con bà Nguyễn Thị V (Đều đã chết); Chồng là Đào Văn S1; Bị cáo có 02 con (Con trai Nguyễn Hồng H1, sinh năm 1998, đã chết; Con gái Đào Bảo Y, sinh năm 2021)
Tiền án: 01 tiền án. Bản án số: 91/2006/HSST ngày 28/12/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt Trần Thị H 18 năm tù về tội “Mua bán phụ nữ” và tội “Mua bán trẻ em”. Ngày 27/01/2019 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/10/2023 đến ngày 10/10/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt”.
2. Họ và tên: Nguyễn Xuân L - Sinh ngày 12/3/1970, tại huyện H, tỉnh Thái Bình
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân C (đã chết); Con bà Nguyễn Thị H2; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số: 48/HSST ngày 09/9/2008 của Tòa án nhân dân thị xã Lai Châu, tỉnh Lai Châu xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; Bản án số: 46/2013/HSST ngày 30/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/10/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. “Có mặt”.
3. Họ và tên: Vũ Văn H3 - Sinh ngày 10/01/1972, tại huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không xác định được nơi đăng ký hộ khẩu thường trú
Nơi ở trước khi bị bắt: Thôn B, xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn N và bà Phạm Thị T (đều đã chết); Bị cáo có vợ là Ngô Thị P (đã ly hôn) và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số: 07/HS.ST ngày 27/4/1999 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội “Chiếm đoạt chất nổ”; Bản án số: 23/2011/HSST ngày 11/8/2011 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 5 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/8/2016
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/10/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 30/9/2023, Trần Thị H đang ở nhà thì nảy sinh ý định đi mua ma tuý Heroine về bán kiếm lời nên một mình đi bộ từ nhà đến khu vực chợ B, thuộc thôn H, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Tại đây Trần Thị H nhìn thấy một người nữ giới không quen biết đang đứng một mình ở ven đường. Trần Thị H đi đến vị trí người nữ giới này hỏi: “chị có trắng không?”, người nữ giới trả lời “có, lấy bao nhiêu?”, Trần Thị H nói “lấy bảy trăm” rồi đưa cho người nữ giới 700.000 đồng. Người nữ giới cầm tiền rồi đưa lại cho Trần Thị H 01 gói giấy bạc to và 05 gói giấy bạc nhỏ rồi nói: “to ba trăm rưỡi, nhỏ bảy mươi”. Trần Thị H cầm số ma tuý vừa mua được về nhà cất vào trong túi áo bên trái, áo nỉ, màu xám treo trong phòng ngủ của H. Sáng ngày 01/10/2023, Trần Thị H lấy các gói ma tuý mua được từ hôm trước ra kiểm tra, sau đó cất gói to và 02 gói nhỏ vào trong túi quần dài, bên phải Trần Thị H đang mặc, 01 gói nhỏ để vào trong ngăn trên cùng, bên phải tủ đựng quần áo kê trong phòng ngủ; 02 gói nhỏ còn lại cất vào trong túi áo nỉ màu xám lúc trước rồi đi làm việc nhà. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày Nguyễn Xuân L ở thôn T, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai đi xe mô tô đến cổng nhà gọi hỏi Trần Thị H mua 400.000 đồng ma túy Heroine, Trần Thị H đồng ý bán cho Nguyễn Xuân L 01 gói ma túy to với giá 400.000 đồng. Đến khoảng 11 cùng ngày Vũ Văn H3 ở thôn B, xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai đi xe mô tô đến đỗ ở cổng nhà Trần Thị H rồi đi bộ vào trong bếp để gặp Trần Thị H hỏi mua 100.000 đồng ma túy, Trần Thị H đồng ý bán cho Vũ Văn H3 01 gói nhỏ ma túy giá 100.000 đồng. Sau khi bán ma túy cho Vũ Văn H3 xong, Trần Thị H thấy trong túi quần còn lại 01 gói ma túy nảy sinh ý định bán tiếp gói ma tuý này nên đã cho gói ma tuý vào trong khẩu trang đeo trên mặt rồi đi bộ một mình ra khỏi nhà để tìm kiếm khách hàng. Hồi 12 giờ 10 phút, khi Trần Thị H đang đứng ở ven đường Q, thôn H, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an thành phố L phối hợp Công an xã Thống Nhất kiểm tra. Trần Thị H khai nhận đang cất giấu ma tuý trên người. Tổ công tác mời người chứng kiến trước sự có mặt của người chứng kiến, Trần Thị H tự giác lấy từ trong khẩu trang đang đeo trên mặt ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột khô màu trắng, vón cục, Trần Thị H khai nhận là ma túy Heroine cất giấu để bán kiếm lời. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Thị H và niêm phong vật chứng theo quy định.
Khoảng 9 giờ ngày 01/10/2023, bị cáo Nguyễn Xuân L đang ở nhà thì nảy sinh ý định đi mua ma tuý Heroine để sử dụng. Nguyễn Xuân L đã tự ý lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BKS: 21T1-3226 của em gái là chị Nguyễn Thị L1 để đi. Bị cáo điều khiển xe mô tô đi đến nhà Trần Thị H ở thôn P, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai đến nơi Nguyễn Xuân L đỗ xe ở ngoài cổng và gọi Trần Thị H. Trần Thị H nghe thấy đi từ trong bếp ra cổng thì Nguyễn Xuân L nói: “bán cho bốn trăm” đồng thời đưa cho Trần Thị H 400.000 đồng. Trần Thị H cầm tiền rồi đi vào phía nhà bếp lấy từ trong túi quần dài, bên trái Trần Thị H đang mặc ra 01 gói giấy bạc to chứa ma túy Heroine cầm trong lòng bàn tay phải rồi quay lại cổng đưa cho Nguyễn Xuân L. Sau khi mua được ma túy Nguyễn Xuân L cầm gói ma tuý trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Hồi 9 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nguyễn Xuân L đi đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn P, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố L phối hợp Công an xã T yêu cầu dừng xe kiểm tra. Trước sự có mặt của người chứng kiến Nguyễn Xuân L tự giác mở lòng bàn tay trái ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột khô màu trắng, vón cục và khai nhận số chất bột khô, màu trắng, vón cục là ma tuý Heroine vừa mua được của Trần Thị H mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã đưa Nguyễn Xuân L, vật chứng và phương tiện về trụ sở Công an xã T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Khoảng 10 giờ ngày 01/10/2023, Vũ Văn H3 đi đến nhà anh H4 ở thôn T, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai chơi. Lúc này anh Nguyễn Văn L2 (sinh năm: 1975; nơi thường trú: thôn T, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai) đi xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BKS: 24B1 - 679.121 đến lắp đặt cửa nhôm tại nhà anh H4. Đến khoảng 11 giờ, Vũ Văn H3 nảy sinh ý định đi mua ma tuý Heroine về sử dụng nên đã mượn xe mô tô của anh Nguyễn Văn L2 nói là đi có việc. Sau khi mượn được xe Vũ Văn H3 một mình điều khiển đi đến nhà Trần Thị H ở thôn P, xã T, thành phố L, khi đến nơi Vũ Văn H3 đỗ xe mô tô ở cổng rồi đi bộ vào trong sân thì thấy Trần Thị H đang ở trong nhà bếp. Vũ Văn H3 đi vào trong bếp hỏi Trần Thị H: “có đồ không bán cho anh một ít”. Trần Thị H trả lời: “có”. Trần Văn H5 nói: “bán cho anh một trăm” đồng thời lấy 100.000 đồng đưa cho Trần Thị H. Trần Thị H cầm tiền rồi lấy từ trong túi quần ra 01 gói giấy bạc nhỏ chứa ma túy Heroine đưa cho Vũ Văn H3. Vũ Văn H3 cầm gói ma tuý đi ra cổng điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Đi khỏi nhà Trần Thị H được một đoạn thì Vũ Văn H3 dừng lại ở ven đường mở gói giấy bạc ra, đổ số ma tuý Heroine bên trong gói giấy bạc vừa mua được vào 01 tờ tiền Ngân hàng N1 mệnh giá 1000 đồng gấp cuộn lại cho vào túi nilon lấy từ vỏ bao thuốc lá Thăng Long rồi nhét vào trong chiếc tất bị cáo đang đi ở chân bên trái sau đó lên xe đi tiếp. Hồi 11 giờ 25 phút, khi Vũ Văn H3 đi đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn P, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý Công an thành phố L phối hợp Công an xã T yêu cầu dừng xe kiểm tra. Trước sự có mặt của người chứng kiến Vũ Văn H3 tự giác lấy từ trong chiếc tất đang đeo ở chân bên trái ra giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 (một) tờ tiền Ngân hàng N1 mệnh giá 1000 đồng được gập cuộn bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục. Vũ Văn H3 khai nhận số chất bột khô màu trắng là ma túy Heroine vừa mua được của Trần Thị H mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác mời người chứng kiến cùng đưa Vũ Văn H3, vật chứng và phương tiện về trụ sở Công an xã T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Thị H phát hiện thu giữ: tại bên trong túi áo bên trái của áo nỉ, màu xám treo trong phòng ngủ 02 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục; 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục tại bên trong ngăn tủ trên cùng, bên phải tủ nhựa đựng quần áo kê trong phòng ngủ. Trần Thị H khai nhận số chất bột khô, màu trắng, vón cục là ma tuý Heroine cất giấu để bán kiếm lời.
Tại bản kết luận giám định số: 335/GĐMT ngày 04/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh L đã kết luận: 0,32 (không phẩy ba mươi hai) gam cục chất bột khô, màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Xuân L ngày 01/10/2023 là loại chất ma túy Heroine; .
Tại bản kết luận giám định số: 336/GĐMT ngày 04/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh L đã kết luận: 0,19 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ khi bắt quả tang Vũ Văn H3 ngày 01/10/2023 là loại chất ma túy Heroine.
Tại bản kết luận giám định số: 337/GĐMT ngày 04/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh L đã kết luận: 0,09 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ khi bắt quả tang và 0,33 gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ khi khám xét nơi ở của Trần Thị H ngày 01/10/2023 là loại chất ma túy Heroine.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số: 192/CT-VKS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố Trần Thị H về tội “Mua trái phép chất ma túy” theo điểm c, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Truy tố Nguyễn Xuân L, Vũ Văn H3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” xử phạt bị cáo từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù và phạt 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân L và bị cáo Vũ Văn H3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù; Xử phạt bị cáo Vũ Văn H3 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Không phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Xử lý vật chứng vụ án, tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Các bị cáo khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 30/9/2023, Trần Thị H đang ở nhà thì nảy sinh ý định đi mua ma tuý Heroine về bán kiếm lời nên một mình đi bộ từ nhà đến khu vực chợ B, thuộc thôn H, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai gặp và mua của người nữ giới (không quen biết) 01 gói giấy bạc to và 05 gói giấy bạc ma túy Heroine với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý H về nhà. Đến khoảng 09 giờ ngày 01/10/2023 Trần Thị H đã bán cho Nguyễn Xuân L 01 gói ma túy to với giá 400.000 đồng; Khoảng 11 ngày 01/10/2023 Trần Thị H đã bán cho Vũ Văn H3 01 gói nhỏ ma túy giá 100.000 đồng.
Mua được ma túy Nguyễn Xuân L tìm nơi để sử dụng khoảng 9 giờ 30 khi đi đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn P, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai thì bị bắt quả tang; Sau khi mua ma túy Vũ Văn H3 đi về, khoảng 11giờ 25 phút đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn P, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai thì bị bắt quả tang;
Như vậy đối với Trần Thị H đã mua 0,93 gam ma tuý Heroine với giá tiền 700.000 đồng mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 09 giờ ngày 01/10/2023 đã bán cho Nguyễn Xuân L 01 gói ma túy khối lượng 0,32 gam với giá tiền là 400.000 đồng, khoảng 11 giờ ngày 01/10/2023 bán cho Vũ Văn H3 01 gói ma túy Heroine có khối lượng 0,19 gam với giá tiền là 100.000 đồng. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Ngoài ra năm 2006 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử về tội “Mua bán phụ nữ” và tội “Mua bán trẻ em” theo khoản 2 điều 119 và khoản 2 điều 120 bộ luật hình sự năm 1999 là tội phạm đặc biệt nguy hiểm chưa được xóa án, lần phạm tội này của bị cáo là tội phạm rất nghiêm trọng vì vậy bị cáo còn phải chịu thêm tình tiết định khung ‘Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm q khoản 2 điều 151 Bộ luật hình sự
Đối với Nguyễn Xuân L đã mua 01 gói ma túy Heroine khối lượng 0,32 gam; Vũ Văn H3 đã mua 01 gói ma túy Heroine có khối lượng 0,19 gam mục đích để sử dụng vì vậy đủ cơ sở để kết luận Nguyễn Xuân L, Vũ Văn H3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, các bị cáo đều có nhân thân xấu vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình vì vậy cần cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...” do đó các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo Nguyễn Xuân L, Vũ Văn H3 tại phiên tòa các bị cáo là người lao động tự do, không có việc làm ổn định, lại nghiện ma túy nên không có tài sản, thu nhập gì. Tuy nhiên đối với bị cáo Trần Thị H phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý, thu giữ được tiền, điện thoại của bị cáo vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Thị H.
[6] Về vật chứng vụ án: Số ma tuý Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cần tịch thu tiêu huỷ; Số tiền 3.150.000 đồng thu giữ của Trần Thị H trong đó có 500.000 đồng là tiền bán ma túy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, số còn lại tạm giữ để đảm bảo thi hành án; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA thu giữ của Trần Thị H tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Số tiền 1.000 đồng giữ của Vũ Văn H3 bị cáo sử dụng gói ma túy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát: 21T1-3226 Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị L1; Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BKS: 24B1- 679.12 Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Văn L2 là đúng quy định của pháp luật.
[7] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ vào điểm b, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Trần Thị H 07 (Bảy) năm 06 (S2) tháng tù và 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án được khấu trừ 09 ngày tạm giữ.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Nguyễn Xuân L 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 01/10/2023
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Vũ Văn H3 01(Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 01/10/2023
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 0,21 (không phẩy hai mươi mốt) gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư có sẵn của Phòng K Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì thư ghi “Vật chứng còn lại lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Xuân L ngày 01/10/2023 tại thôn P, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai"
- + 0,12 (không phẩy mười hai) gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư có sẵn của Phòng K Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì thư ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Vũ Văn H3 ngày 01/10/ 2023 tại thôn P, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai’
- + 0,05 (không phẩy không năm) gam H6 còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư có sẵn của Phòng K Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì thư ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Trần Thị H ngày 01/ 10/2023 tại thôn H, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Lào Cai”
- + 0,21 (không phẩy hai mươi mốt) gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư có sẵn của Phòng K Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì thư ghi “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi khám xét nơi ở của Trần Thị H ngày 01/10/2023 tại thôn P, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai”.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 1.000 đồng (Một nghìn đồng) thu giữ khi bắt quả tang Vũ Văn H3 và số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) thu giữ của Trần Thị H;
- Tạm giữ để đảm bảo thi hành án của Trần Thị H số tiền 2.650.000 đồng (Hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, số IMEI1: 867580047011914, gắn 01 (một) SIM V1 có dòng số: 8984048000315012048 (điện thoại đã qua sử dụng) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xanh, số xêri: 353778045135021, gắn 01 (một) SIM Vinaphone có dòng số: 89840200011152196729 (điện thoại đã qua sử dụng).
Tổng số tiền 3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ của Trần Thị H và số tiền 1.000 đồng (Một nghìn đồng) thu giữ của Vũ Văn H3 hiện đang tạm gửi tại số tài khoản 3949.0.9049863 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L mở tại Kho bạc Nhà nước Lào Cai.
- Về án phí:
Căn cứ vào Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Thị H, Nguyễn Xuân L, Vũ Văn H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tuyết Lanh |
Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về mua bán trái phép chất ma túy; tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 05/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H cùng đồng phạm phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
