Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST

Ngày 09-01-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Tâm Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Võ Lâm Sơn;

bà Nguyễn Thị Ly.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kiều Tiên- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 580/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 539/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Trương Thị L, sinh năm 1987; nơi cư trú: ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.

Nơi ở hiện tại: số C, tổ A, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1988; nơi cư trú: ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/10/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trương Thị L trình bày: bà L và ông S chung sống với nhau vào năm 2005, có đăng ký ngày 13/8/2014 và được cấp chứng nhận kết hôn theo bản sao trích lục kết hôn số 1752/TLKH-BS ngày 05/10/2023 của Ủy ban nhân dân xã K. Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Thị H, sinh ngày 15/7/2008 theo bản sao giấy khai sinh số 1754/GKS-BS ngày 05/10/2023 của Ủy ban nhân dân xã K.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống ở nhà của cha mẹ ông S tại ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không tôn trọng, tính tình không hợp, trong thời gian chung sống thường xảy ra bất hòa, không thể giải quyết được, cố gắng hàn gắn nhưng không thể chung sống được nữa và sống ly thân từ đó đến nay. Vì vậy, bà L yêu cầu ly hôn với ông S.

Khi ly hôn, bà L yêu cầu nuôi con Nguyễn Thị H, sinh ngày 15/7/2008 và không yêu cầu cấp dưỡng cho con; bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Tại phiên tòa: bà L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, việc ly hôn do vợ chồng mâu thuẫn khi chung sống ở Bình Dương. Ông S chung sống với người phụ nữ khác làm cho vợ chồng chính thức sống ly thân vào năm 2017. Đến đầu năm 2023, ông S tự động ghen ngược lại rồi đánh đập bà L cũng tại Bình Dương mặc dù vợ chồng đã sống ly thân.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 195, 196, 197, 198 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm các trình tự, thủ tục và quyền tranh tụng tại phiên tòa.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: bà L yêu cầu ly hôn, do ông S không quan tâm gia đình, chung sống với người phụ nữ khác rồi sống ly thân từ năm 2017 đến nay, bà L yêu cầu ly hôn và ông S không có ý kiến phản hồi cho thấy vợ chồng không có ý định hàn gắn, hôn nhân đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng.

Hiện tại, đứa con Nguyễn Thị H, sinh ngày 15/7/2008 đang sống chung với bà L, có nguyện vọng sống chung với bà L và được chăm sóc tốt về vật chất và tinh thần, ông S không có ý kiến phản hồi.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông S; Tiếp tục giao con Nguyễn Thị H, 15/7/2008 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng và ông S không phải cấp dưỡng cho con. Bà L không yêu cầu giải quyết về tài sản nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá và nhận định như sau:

[1] Bà L có đơn khởi kiện đối với ông S về yêu cầu ly hôn, nuôi con. Ông S có địa chỉ cư trú tại ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, quan hệ pháp luật của vụ án là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Giữa bà L và ông S xác lập hôn nhân tự nguyện, có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã K cấp chứng nhận kết hôn nên quan hệ vợ chồng hợp pháp được tôn trọng và pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, bà L cho rằng “năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không tôn trọng nhau, tính tình không còn hợp nhau, ông S chung sống với người phụ nữ khác và sống ly thân kể từ đó đến nay”. Tòa án đã tiến hành xác minh vấn đề mâu thuẫn vợ chồng, xác định: “...ông S đi đâu, làm gì thì địa phương không xác định được do không trình báo, về mâu thuẫn giữa bà L và ông S thì địa phương cũng không xác định được” theo kết quả xác minh ngày 18/12/2023.

[3] Mặt khác, kể từ khi Tòa án thụ lý, hòa giải, xét xử vụ việc hôn nhân và gia đình, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông S nhằm tạo điều kiện, tổ chức hòa giải hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông S không có văn bản ý kiến, vắng mặt không có lý do thì xem như ông S bỏ mặc việc tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm theo yêu cầu ly hôn của bà L. Bên cạnh đó, bà L không muốn tiếp tục sống chung với ông S mặc dù đã được Tòa án động viên, hàn gắn.

Như vậy, bà L, ông S đã bỏ mặc nhau, mạnh ai nấy sống riêng, không có tình nghĩa vợ chồng với nhau, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Bà L yêu cầu ly hôn với ông S là có căn cứ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, 2 Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà L về việc ly hôn đối với ông S.

[4] Khi ly hôn, bà L có yêu cầu trực tiếp nuôi con Nguyễn Thị H, sinh ngày 15/7/2008 đang sống chung với bà L. Tòa án tiến hành xem xét ý kiến của con chưa thành niên thì thấy trong thời gian vợ chồng sống ly thân, trẻ đang được bà L nuôi dưỡng, chăm sóc rất tốt, trẻ có nguyện vọng sống chung với mẹ là bà Trương Thị L. Mặt khác, ông S cũng không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con của bà L.

Như vậy, bà L yêu cầu trực tiếp nuôi con là bảo đảm quyền lợi cho trẻ. Theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà L, giao con Nguyễn Thị H, sinh ngày 15/7/2008 cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Bà L không yêu cầu ông S cấp dưỡng cho con nên Tòa án không xem xét. Sau khi ly hôn, việc nuôi con là quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ nên bà L phải tạo điều kiện thuận lợi cho ông S thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[5] Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung. Theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không xem xét.

[6] Về án phí sơ thẩm: bà L phải chịu án phí ly hôn không có giá ngạch theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 19, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị L đối với bị đơn ông Nguyễn Văn S;

    Trương Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Văn S.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 235, ngày đăng ký 13/8/2014 do Ủy ban nhân dân xã K cấp cho bà L và ông S không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

    Giao con Nguyễn Thị H, sinh ngày 15/7/2008 cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và không yêu cầu cấp dưỡng cho con; ông S không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  2. Về án phí sơ thẩm: bà Trương Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0013985 ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
  3. L có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày được tính từ ngày tuyên án. Ông S vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
  4. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới;
  • - Ủy ban nhân dân nơi thực hiện đăng ký kết hôn;
  • - Lưu: văn thư, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tâm Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HNGĐ-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 05/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không tôn trọng, tính tình không hợp, trong thời gian chung sống thường xảy ra bất hòa, không thể giải quyết được, cố gắng hàn gắn nhưng không thể chung sống được nữa và sống ly thân từ đó đến nay. Vì vậy, bà L yêu cầu ly hôn với ông S.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger