TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 05/2024/DS -ST
Ngày: 08 - 01 - 2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
*/- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Hòa
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Bình
- Ông Nguyễn Ron
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nương
- Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
- - Đại diện VKSND TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa:
- Bà Trần Thanh T - Kiểm sát viên
***
Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 284/2023/TLST - DS, ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp “hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 381/2023/QĐXX-ST ngày 18/12/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm: 1969; Địa chỉ: Thôn H, xã N, thành phố Q, Bình Định
Bị đơn: Ông Phạm Minh Đ, sinh năm: 1972 và Bà Đào Thị Ánh H1, sinh năm: 1973; Cùng địa chỉ: Thôn H, xã N, thành phố Q, Bình Định
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị C, sinh năm: 1970; Địa chỉ: Thôn H, xã N, thành phố Q, Bình Định
Tại phiên toà các đương sự có mặt
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/10/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Văn H trình bày: Vợ chồng ông và vợ chồng ông Đ, bà H1 là hàng xóm láng giềng với nhau. Vì vợ chồng bà H1 có nhu cầu vay bốn, nuôi tôm hùm giống và tôm hùm thương phẩm nên có đến tìm vợ chồng ông vay một khoản tiền để làm ăn. Cụ thể: ngày 29/7/2021 âm lịch (là ngày 05/9 dương lịch), vợ chồng ông có cho vợ chồng bà H1 vay số tiền 20.000.000 đồng và 2 chỉ vàng 9999. Ngày 21/02/2022, vợ chồng bà H1 có vay tiếp số tiền 110.000.000 đồng. Cả 2 lần vay tiền, hai bên có viết giấy vay mượn tiền, nhưng trong giấy không thể hiện lãi suất và thời hạn trả. Về thời hạn vay: Hai bên thỏa thuận miệng khi nào bà H1 thu hoạch tôm xong sẽ trả; lãi suất hàng tháng là 2%.
Từ khi vay đến cuối năm 2022 vợ chồng bà H1 trả lãi như thỏa thuận. Tuy nhiên, từ đầu năm 2023 đến nay, vợ chồng bà H1 không trả tiền lãi, vợ chồng ông đã nhiều lần yêu cầu trả gốc và lãi nhưng vợ chồng bà H1 cố tình không trả. Do đó, vợ chồng ông khởi kiện, yêu cầu bà H1, ông Đ trả số tiền nói trên gồm 130.000.000 đồng và 2 chỉ vàng 9999, vợ chồng ông thống nhất quy đổi 2 chỉ vàng 9999 thành tiền là 10.000.000 đồng + 130.000.000 đồng = 140.000.000 đồng. Yêu cầu bà H1, ông Đ trả một lần, ông không yêu cầu tính lãi suất chậm trả.
Bị đơn ông Phạm Minh Đ, bà Đào Thị Ánh H1 trình bày:
Ông bà thừa nhận ngày 29/7/2021 âm lịch (là ngày 05/9 dương lịch) và ngày 21/02/2022, ông bà có vay của vợ chồng ông H, bà C số tiền và vàng như trên để làm ăn, lãi suất và thời hạn trả như ông H trình bày. Nhưng từ đầu năm 2023 đến nay, công việc làm ăn khó khăn nên ông bà không có khả năng trả tiền cho ông H, bà C. Nay ông H, bà C khởi kiện, yêu cầu vợ chồng bà trả số tiền là 140.000.000 đồng, vợ chồng bà có ý kiến như sau: hiện nay kinh tế gia đình ông bà đang khó khăn, việc làm ăn bị thua lỗ, bản thân ông bà hiện đang nợ rất nhiều người nên xin được trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết khoản tiền nợ 140.000.000 đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị C:
thống nhất như lời trình bày của ông Trần Văn H.
*/- Ý kiến của đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn:
Về tuân theo pháp luật tố tụng: từ khi thụ lý đến phiên tòa xét xử Thẩm phán; Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đúng các trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71, 72 BLTTDS.
3
Về giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị bị đơn phải trả số tiền 140.000.000 đồng là có căn cứ pháp luật phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466, 469 Bộ luật dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bà H1 và ông Đ xin trả dần không có cơ sở nên đề nghị không chấp nhận. Án phí: Bà H1 và ông Đ được giảm ½ theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguyên đơn và bị đơn thống nhất bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 140.000.000 đồng. Ngày 29/7/2021 âm lịch (5/9/2021 DL) vay 20.000.000 đồng và 02 chỉ vàng 9999 (hai bên thống nhất quy đổi thành tiền là 10.000.000 đồng); ngày 21/02/2022 vay 110.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy mượn tiền nhưng không thỏa thuận thời hạn trả.
Xét hợp đồng vay giữa ông H và bà H1, ông Đ là hợp đồng vay không kỳ hạn và có thoả thuận lãi suất, bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý, từ tháng 01/2023 đến nay ông H đã nhiều lần yêu cầu bà H1 và ông Đ trả nợ nhưng cho đến nay bà H1 và ông Đ chưa trả là vi phạm hợp đồng. Do đó, ông H yêu cầu bà H1 và ông Đ phải trả số tiền còn nợ 140.000.000 đồng là hoàn toàn phù hợp với điều 463, 466, 469 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.
Việc bà H1 vay tiền trong thời kỳ hôn nhân, trong hợp đồng vay ngày 29/7/2021 không có tên ông Đ nhưng ông Đ biết việc bà H1 vay mượn và xác nhận nợ nên ông Đ phải có trách nhiệm trả nợ cùng bà H1 là phù hợp quy định tại Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình
Số tiền 140.000.000 đồng ông H cho bà H1, ông Đ vay là tài sản chung của vợ chồng ông H, bà C. Căn cứ Điều 33 của Luật Hôn nhân và gia đìnhđồng xét xử buộc vợ chồng bà H1, ông Đ trả tiền vay cho vợ chồng ông H, bà C.
[2] Về lãi vay: Nguyên đơn, bị đơn thống nhất không yêu cầu Toà án giải quyết lãi vay đã trả và lãi chậm trả nên Hội đồng xét xử không xem xét về tiền lãi.
[3] Bà H1, ông Đ xin được kéo dài thời hạn trả nợ nhưng không được ông H, bà C chấp nhận, không phù hợp với quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[4].Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 13, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
4
Quốc Hội. Bà H1, ông Đ phải chịu 3.500.000 đồng (đã được xét giảm ½ vì có hoàn cảnh kinh tế khó khăn có xác nhận của UBND xã N, TP .)
Ý kiến của đại diện viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ:
- - Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
- - Điều 463, Điều 466, Điều 469 của Bộ luật dân sự năm 2015 Các Điều 33, 37 Luật hôn nhân gia đình.
- - Điều 13, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H. Buộc bà Đào Thị Ánh H1 và ông Phạm Minh Đ phải trả cho ông Trần Văn H, bà Huỳnh Thị C số tiền: 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Đào Thị Ánh H1 và ông Phạm Minh Đ về việc xin được trả dần số tiền 140.000.000 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: bà Đào Thị Ánh H1 và ông Phạm Minh Đ phải chịu 3.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (đã được xét giảm ½). Hoàn trả cho ông Trần Văn H số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.500.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000058 ngày 07/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
5
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Thận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Minh Hòa |
Bản án số 05/2024/DS-ST ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 05/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
