Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/DS-ST

Ngày 06-8-2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hiền và ông Trần Mạnh Hùng

- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Phạm Thị Quỳnh Loan- Kiểm sát viên.

Trong ngày 06/8/2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 51/2023/TLST-DS ngày 06/10/2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXXST-DS ngày 28/3/2024; các quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/QĐST-DS ngày 23/4/2024; số 11/2024/QĐST-DS ngày 23/5/2024; số 16/2024/QĐST-DS ngày 17/6/2024 và số 21/2024/QĐST-DS ngày 12/7/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T1 (đây gọi tắt là T2); địa chỉ trụ sở: Tòa nhà T2, E L, thành phố Hà Nội
  2. Người đại diện theo pháp luật: ông Đỗ Minh P - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;
  3. Người đại diện theo ủy quyền: chị Nguyễn Thị Linh C (theo giấy uỷ quyền số 394/2023/GUQ.DR ngày 30/6/2023); địa chỉ làm việc: D L, phường P, quận H, thành phố Hà Nội -có mặt.
  4. Bị đơn: chị Phạm Thị Thanh H thường trú: tổ F, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh nơi ở hiện tại: thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương - vắng mặt có đơn xin xử án vắng mặt.
  5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Phạm Anh T; trú tại: Tổ A, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt lần thứ 2 không lý do.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 30/6/2023 và lời khai tại tòa án người đại diện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP T3 - bà Nguyễn Thị Linh C trình bày: T2 đã cho chị Phạm Thị Thanh H1 vay vốn theo đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 61/2021/HDTD/TTB.HLG/01 ngày 01/11/2021 (sau đây gọi tắt là hợp đồng số 01) số tiền 740.000.000 đồng (bảy trăm bốn mươi triệu đồng) mục đích mua xe ô tô và Hợp đồng cho vay số 61/2021/HDTD/TTB.HLG/02 ngày 11/11/2021 số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), mục đích thanh toán phí bảo hiểm nhân thọ (sau đây gọi tắt là hợp đồng số 02). Tổng số tiền vay của 2 hợp đồng số 01,02 là: 760.000.000 (bảy trăm sáu mươi triệu) đồng được giải ngân ngày 11/11/2021. Thời hạn vay: 96 tháng, kể từ ngày giải ngân ngày 11/11/2021; lãi suất trong hạn 8,5%/năm kể từ ngày 12/11/2021 đến 11/11/2022.

Lãi suất áp dụng cho thời gian tiếp theo đến ngày 11/11/2029: lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần và bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng của T2 tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ tối thiểu 4.0%/năm. Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn đang áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất quá hạn được tính trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả áp dụng trong trường hợp khoản nợ vay của khách hàng bị chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên số dư lãi vay chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Tài sản thế chấp cho cả hai khoản vay trên là: 01 chiếc xe ô tô, nhãn hiệu Ford; loại xe Ranger, màu trắng, số khung: RL2UMFF60MKR13773, số máy:YN2QPMK13773, Biển kiểm soát: 14C – 331.18 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 14 015947 do Phòng C1 – Công an tỉnh Q cấp ngày 05/11/2021 đứng tên Phạm Thị Thanh H1. Theo đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp ô tô số 61/2021/HDTD/TTB.HLG/01 ngày 01/11/2021 và Hợp đồng cho vay số 61/2021/HDTD/TTB.HLG/02 ngày 11/11/2021.

Trong quá trình trả nợ vay, chị H1 đã trả cho Ngân hàng tổng số tiền cho hợp đồng số 01: là 247.413.882 đồng, trong đó nợ gốc 138.749.994 đồng, lãi trong hạn 102.738.180 đồng, lãi quá hạn 4.000.264 đồng, lãi chậm trả 1.985.444 đồng. Đối với hợp đồng số 02 chị H1 đã trả được cho Ngân hàng số tiền: 8.493.670 đồng, trong đó: nợ gốc 4.583.326 đồng, lãi trong hạn 3.654.641 đồng, lãi quá hạn 135.049 đồng, lãi chậm trả 60.327 đồng.

Từ tháng 3/2022, chị Phạm Thị Thanh H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho T2, phát sinh nợ quá hạn. Ngân hàng TMCP T3 khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc chị H1 thanh toán cho T2 khoản nợ phát sinh từ 02 Hợp đồng tạm tính theo đến ngày 06/8/2024 là: 729.211.578 đồng, trong đó:

Hợp đồng số 01: tổng số tiền là: 711.992.246 đồng; trong đó nợ gốc: 601.250.006; lãi trong hạn 92.658.410 đồng, lãi quá hạn 12.257.357 đồng; lãi phạt:5.826.473 đồng.

3

Hợp đồng số 02: tổng số tiền là: 17.219.332 đồng; trong đó nợ gốc: 15.416.674 đồng; lãi trong hạn 1.566.023 đồng, lãi quá hạn 166.844 đồng; lãi phạt:69.791 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong buộc chị H1 phải thanh toán các khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng cho vay đã ký kết cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ tại T2.

Kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực mà chị Phạm Thị Thanh H1 không thanh toán toàn bộ khoản nợ cho T2, T2 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: 01 xe ô tô nhãn hiệu: Ford, số loại: Ranger, màu Trắng, số khung: RL2UMFF60MKR13773, Số máy YN2QPMK13773, Biển kiểm soát: 14C-331.18. Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 14 015947 do phòng C1 Công an tỉnh Q cấp ngày 05/11/2021 cho chị Phạm Thị Thanh H1.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của chị H1 đối với T2, nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì chị H1 có nghĩa vụ phải tiếp tục trả hết khoản nợ cho T2.

Tại phiên toà, đại diện ngân hàng B yêu cầu khởi kiện đề nghị chấm dứt 02 hợp đồng số 01,02 nêu trên.

Bị đơn chị Phạm Thị Thanh H1 vắng mặt tại phiên toà song có lời khai tại hồ sơ thể hiện: nội dung trình bày của Ngân hàng TMCP T4 trình ký kết và thực hiện các Hợp đồng số 61/2021/HDTD/TTB.HLG/01 ngày 01/11/2021 và số 61/2021/HDTD/TTB.HLG/02 ngày 11/11/2021 giữa Ngân hàng TMCP T5 chị là đúng. Chị đã được ngân hàng giải ngân và nhận đủ số tiền 760.000.000 đồng theo 02 Hợp đồng đã ký. Chị cũng xác nhận số tiền chị đã trả và số tiền còn nợ Ngân hàng TMCP T3.

Để đảm bảo cho khoản vay, chị đã ký đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 61/2021/HDTD/TTB.HLG/01 ngày 01/11/2021 và số 61/2021/HDTD/TTB.HLG/02 ngày 11/11/2021 tại Ngân hàng TMCP T3, tài sản thế chấp là: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu: Ford, số loại: Ranger, màu trắng, số khung: RL2QPMK13773, biển kiểm soát: 14C-331.18, đăng ký mang tên chị Phạm Thị Thanh H1. Khoảng năm 2022, chị đã cho anh Phạm Anh T thuê chiếc xe trên và anh T làm mất xe. Cho đến nay, chị không biết chiếc xe là tài sản thế chấp hiện đang ở đâu, do ai quản lý, sử dụng. Quan điểm của chị về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng như sau: Chị đồng ý trả cho Ngân hàng TMCP T3 toàn bộ khoản nợ nhưng chị đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để chị đi làm và được trả dần khoản nợ do hiện nay chị không có tài sản và thu nhập hiện nay không đủ để trả toàn bộ khoản nợ. Chị không có tài sản nào khác để thế chấp thay thế cho xe ô tô đã mất. Trường hợp tìm được xe ô tô, chị đồng ý để Ngân hàng yêu cầu kê biên, phát mại tài sản theo quy định của pháp luật.

4

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng:

    Về thẩm quyền: trước khi Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn có nơi thường trú tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, sau khi Tòa án thụ lý và đang giải quyết, bị đơn mới có thay đổi nơi thường trú tại huyện K, tỉnh Hải Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; Điều 35 và điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

    Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã lấy lời khai của anh Phạm Anh T và xác định anh T là người làm chứng, nhưng quá trình thảo luận tại các buổi hoãn phiên toà, Hội đồng xét xử xác định anh T là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và đã tống đạt hợp lệ các thủ tục xét xử cho anh T, xong anh T vắng mặt lần thứ 2 không lý do nên toà án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

    - Xét các Hợp đồng số 01, 02 là sự tự nguyện thỏa thuận của Ngân hàng T2 với chị Phạm Thị Thanh H1, đảm bảo các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, Luật các Tổ chức tín dụng và các quy chế, quy định của ngân hàng N và các điều kiện điều khoản chung của T2. Các hợp đồng trên đã được công chứng hợp pháp và đã phát sinh hiệu lực.

    Chị Phạm Thị Thanh H1 đã nhận đủ số tiền vay và đã thực hiện được một phần nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo các Hợp đồng đã ký kết.Từ tháng 3/2022 đến nay, chị H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên T2 khởi kiện thu hồi toàn bộ khoản nợ là có cơ sở xem xét. Tại phiên Toà đại diện T2 đề nghị chấm dứt 02 hợp đồng trên, xét đề nghị trong phạm vi đơn khởi kiện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

    - Về số tiền nợ T2 yêu cầu là: tổng số tiền cho 2 hợp đồng số 01,02 mà T2 yêu cầu bao gồm: nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả lãi được tính phù hợp với sự thoả thuận của các đương sự; phù hợp với điều kiện điều khoản chung về cho vay và thế chấp xe ô tô; phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Bộ luật dân sự 2015 và thông tư số 39/2016/TT-NHNN của ngân hàng N nên có căn cứ để chấp nhận. Cần buộc chị H1 phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ trả nợ cho T2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 06/8/2024 số tiền 729.711.578 đồng (bảy trăm hai mươi chín triệu bảy trăm mười một nghìn năm trăm bảy mươi tám đồng) và chấm dứt 02 hợp đồng nêu trên.

  2. Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: sau khi thế chấp xe ô tô nhãn hiệu: Ford, số loại: Ranger, màu trắng, số khung: RL2UMFF60MKR13773, số máy:YN2QPMK13773, biển kiểm soát: 14C-331.18, đăng ký mang tên chị Phạm Thị Thanh H1 cho T2, T2 giao chiếc xe trên cho chị H1 quản lý theo quy định của pháp luật và chị H1 đã cho anh Phạm Anh T thuê xe. Anh T đã làm mất chiếc xe trên và đã bồi thường giá trị xe cho chị H1 bằng 02 thửa đất nhưng chị H1 không đưa tài sản anh T bồi thường vào thay thế cho Ngân hàng. Đến nay,

5

chị H1 cũng không đưa tài sản khác vào thay thế cho tài sản đã thế chấp. Xác định, mặc dù tài sản thế chấp hiện các đương sự đều không biết ở đâu nhưng hợp đồng thế chấp chiếc xe ô tô trên đã phát sinh hiệu lực pháp luật nay chị H1 thực hiện không đúng nghĩa vụ nên chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của T2 theo quy định tại khoản 1 Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng đối với việc buộc chị H1 còn phải trả nợ cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ khi số tiền xử lý tài sản bảo đảm là xe ô tô không đủ để trả nợ.

Anh Phạm Anh T mượn xe ô tô nhãn hiệu: Ford, số loại: Ranger, màu trắng, số khung: RL2UMFF60MKR13773, số máy:YN2QPMK13773, biển kiểm soát: 14C-331.18 của chị Phạm Thị Thanh H1, anh đã bồi thường chiếc xe trên cho chị H1 thể hiện tại bút lục từ 105 đến 116. Trong vụ án này anh không có yêu cầu độc lập. Sau này nếu có nội dung nào liên quan đến chiếc xe trên, nếu anh T có yêu cầu, Toà án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ việc dân sự khác.

[4] Về án phí: bị đơn chị Phạm Thị Thanh H1 phải chịu án phí dân sự do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận.

[5] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 3 Điều 26; điểm b Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 39; Điều 147, 271, 273, Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 299, 303, 293, 317, 318, 319, 320, 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 4, điều 13 thông tư số 39/2016/TT-NHNN của ngân hàng N ngày 30/12/2016; Điều 7, Điều 8, Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T3 (T2) đối với chị Phạm Thị Thanh H1.
    • - Chấm dứt đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp ô tô số 61/2021/HDTD/TTB.HLG/01 ngày 01/11/2021 và Hợp đồng cho vay số 61/2021/HDTD/TTB.HLG/02 ngày 11/11/2021 giữa Ngân hàng TMCP T3 (T2) và chị Phạm Thị Thanh H1.
    • Về nghĩa vụ trả nợ: buộc chị Phạm Thị Thanh H1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP T3 tính đến ngày xét xử sơ thẩm (06/8/2024) tổng số tiền: 729.211.578 đồng (bảy trăm hai mươi chín triệu hai trăm mười một nghìn năm trăm bảy mươi tám đồng), trong đó:

6

  • - Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 61/2021/HDTD/TTB.HLG/01 ngày 01/11/2021: tổng số tiền là: 711.992.246 đồng (bảy trăm mười một triệu chín trăm chín mươi hai nghìn hai trăm bốn mươi sáu đồng); trong đó nợ gốc: 601.250.006 đồng (sáu trăm linh một triệu hai trăm năm mươi nghìn lẻ sáu đồng; lãi trong hạn 92.658.410 đồng( chín mươi hai triệu sáu trăm năm mươi tám nghìn bốn trăm mười đồng), lãi quá hạn 12.257.357 đồng (mười hai triệu hai trăm năm mươi bảy nghìn ba trăm năm mươi bảy đồng); lãi phạt: 5.826.473 đồng (năm triệu tám trăm hai mươi sáu nghìn bốn trăm bảy mươi ba đồng).
  • - Hợp đồng cho vay số 61/2021/HDTD/TTB.HLG/02 ngày 11/11/2021: tổng số tiền là: 17.219.332 đồng (mười bảy triệu hai trăm mười chín nghìn ba trăm ba mươi mốt đồng); trong đó nợ gốc: 15.416.674 đồng (mười lăm triệu bốn trăm mười sáu nghìn sáu trăm bảy mươi tư đồng); lãi trong hạn 1.566.023 đồng (một triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn không trăm hai mươi ba đồng), lãi quá hạn 166.844 đồng (một trăm sáu mươi sáu nghìn tám trăm bốn mươi bốn đồng); lãi phạt: 69.791 đồng (sáu mươi chín nghìn bảy trăm chín mươi mốt đồng).

Trường hợp trong các hợp đồng cho vay trên, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng T2 cho vay thì lãi suất mà chị H1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng T2 cho vay.

  1. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, buộc chị Phạm Thị Thanh H1 phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 61/2021/HDTD/TTB.HLG/01 ngày 01/11/2021 và Hợp đồng cho vay số 61/2021/HDTD/TTB.HLG/02 ngày 11/11/2021 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng T2.

Kể từ ngày Ngân hàng T2 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Phạm Thị Thanh H1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ tại các hợp đồng trên thì T2 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của khoản vay là: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu: Ford, số loại: Ranger, màu trắng, số khung: RL2UMFF60MKR13773, số máy:YN2QPMK13773; biển kiểm soát: 14C-331.18, đăng ký mang tên chị Phạm Thị Thanh H1 số chứng nhận đăng ký xe ô tô 14 015947 do Công an tỉnh Q cấp ngày 05/11/2021 tại đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng cho vay và thế chấp xe ô tô số 61/2021/HDTD/TTB.HLG/01 ngày 01/11/2021 và Hợp đồng cho vay số 61/2021/HDTD/TTB.HLG/02 ngày 11/11/2021.

Trường hợp số tiền thu hồi từ việc xử lý tài sản đảm bảo vẫn không đủ trả nợ cho T2 thì chị Phạm Thị Thanh H1 phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho T2 cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

7

  1. Về án phí: chị Phạm Thị Thanh H1 phải chịu 33.168.463 đồng (ba mươi ba triệu, một trăm sáu mươi tám nghìn, bốn trăm sáu mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho T2 số tiền 15.277.557 đồng (mười lăm triệu hai trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm năm mươi bảy đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0005431 ngày 02/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết .

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - VKSND tp. Cẩm Phả;
  • - Chi cục THADS Tp. Cẩm Phả;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/DS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 05/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tp bank đòi chị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger