Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HS-ST

Ngày 05-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Chinh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đàm Thị Thanh Thủy - Nguyên giáo viên;

Bà Đỗ Thị Xanh - Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Điều - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 133/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2023/HSST-QĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T; tên gọi khác: không; sinh ngày 18/12/2007 tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: Tổ F, Khu H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: Tổ G, Khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không xác định) và bà Nguyễn Thị L; vợ, con: không; tiền án, tiền sự: không; đầu thú ngày 15/9/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.

Đại diện hợp pháp của bị cáo: bà Nguyễn Thị L; sinh năm 1989; nơi thường trú: Tổ F, Khu H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: Tổ G, Khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Trợ giúp viên pháp lý Dương Thị H thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q; có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: chị Bogumila S; sinh năm 1984; nơi cư trú: 03 – 214 Warsaw city, str. Krasnobrodzka 25/6; Ba Lan; vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền của bị hại: Luật sư Mai Thị L1 thuộc Công ty L2, Đoàn Luật sư tỉnh Q; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị Ngọc A; sinh năm 1984; nơi cư trú: : Tổ A, Khu B, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

2. Chị Đào Thị H1; sinh năm 1972; nơi thường trú: Thôn E, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: Tổ H, Khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T (sinh ngày 18/12/2007) và Lê Công H2 (sinh ngày 28/11/2009), đã bỏ học, thường xuyên tụ tập đi chơi và đi đánh điện tử.

Khoảng 19 giờ 45 phút ngày 14/9/2023, T mượn xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu trắng đen, không gắn biển số của cháu Triệu Đức Q (sinh năm 2007, trú tại: Tổ H, Khu C, phường H, thành phố H). Sau khi mượn được xe, T điều khiển xe mô tô đến nhà đón H2, rồi cả hai đi chơi. Trên đường đi, H2 rủ T đi cướp giật tài sản của người đi đường để lấy tiền ăn tiêu, T đồng ý. T điều khiển xe mô tô chở H2 đi trên đường H, theo hướng Hùng T1 đi cầu Bãi C. Khi đi đến đoạn vòng xuyến nhà nghỉ C1 - Bộ C2, đoạn đường thuộc Tổ D, Khu E, phường B, thành phố H, cả hai phát hiện thấy các chị Bogumila S, Lewandowska Z (sinh năm 1992) và anh Gizinski R (sinh năm 1993) đều mang quốc tịch Ba Lan, đang đi bộ trên vỉa hè phía bên trái đường, trên vai chị Bogumila S có đeo 01 chiếc ba lô. T điều khiển xe đi vòng lại sang bên trái đường, đi lên vỉa hè và đi sát vào phía chị Bogumila S, đồng thời H2 ngồi sau dùng tay phải giật chiếc ba lô mà chị Bogumila S đang đeo ở trên vai. Sau đó, T tăng ga xe bỏ chạy đến khu vực Chung cư A thuộc phường H, thành phố H. Tại đây, cả hai dừng xe mở ba lô ra kiểm tra, thấy bên trong có: 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung (S1, S1), cùng với số tiền 1.200.000 VNĐ, 368 USD và 01 quyển hộ chiếu mang tên chị Bogumila S. T và H2 đã lấy điện thoại, tiền VNĐ và USD, còn chiếc balo và quyển hộ chiếu cả hai vứt lại bên vệ đường. Sau đó cả hai đi đến hiệu vàng Ngọc Anh ở Tổ A, Khu B, phường T, thành phố H gặp chị Nguyễn Thị Ngọc A, chủ hiệu bán 368 USD được số tiền 8.806.000VNĐ. Toàn bộ số tiền trên, T và cháu H2 đã ăn tiêu hết. Đối với hai chiếc điện thoại: Thái giữ chiếc điện thoại S1 M33, H2 giữ chiếc điện thoại Samsung S6. Sau khi bị cướp giật tài sản, chị Bogumila S đã đến Công an phường B, thành phố H trình báo. Đến ngày 15/9/2023 T và H2 đến Cơ quan Công an đầu thú và giao nộp hai chiếc điện thoại di động S1 M33 và chiếc điện thoại di động S1 S6.

Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát và thu giữ camera ghi lại hình ảnh T và H2 đi mô tô giật chiếc ba lô của chị Bogumila S, cũng như hình ảnh Camera ghi lại hình ảnh T và H2 đến hiệu vàng Ngọc Anh bán 368USD phù hợp với lời khai của T và H2; đồng thời truy tìm, thu giữ chiếc ba lô và quyền hộ chiếu của chị Bogumila S mà T và H2 vứt lại ở ven đường.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 173 ngày 15/9/2023, của Hội đồng định giá tài sản thành phố H, kết luận: Chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Samsung Galaxay M33, màu xanh dương, đã qua sử dụng trị giá là 3.978.000đồng; Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy S6-EDGE, màu đen, đã qua sử dụng, trị giá 1.398.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 5.376.000 đồng. Riêng chiếc ba lô nhãn hiệu Gola, nhiều màu sắc, đã qua sử dụng: từ chối định giá tài sản do tài sản yêu cầu định giá không có đầy đủ thông tin về model, chất liệu của tài sản. Tại công văn số 819/QUN1 ngày 20/10/2023 của Ngân hàng N chi nhánh tỉnh Q, cung cấp tỷ giá của đồng Việt Nam với đồng Đô la Mỹ trong ngày 14/9/2023 là 01 USD = 24.013 VND; 368 USD = 8.836.784 VND.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã trả lại cho chị Bogumila S: 01 chiếc balo, 02 chiếc điện thoại di động S1, 368USD. Chị Bogumila S đã nhận lại đồ vật, tài sản và không có đề nghị gì.

Đối với chiếc mô tô nhãn hiệu Wave màu trắng đen bạc, không biển số, qua xác minh theo số khung RLHJA3924MY048048, số máy JA39E2165352, biển kiểm soát 36E1-417.71, qua giám định xác định là số khung, số máy nguyên thủy, xe của anh Phạm Viết T2 (địa chỉ: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa), anh T2 khai đã bán chiếc xe mô tô trên cho một người Quảng Ninh không rõ lai lịch, địa chỉ. Theo lời khai của chị Đào Thị H1 là mẹ cháu Q, chồng chị là anh Triệu Đức T3 (đã chết năm 2021) mua xe trên từ năm 2020 tại một cửa hàng xe thuộc phường H, thành phố H với giá 14.000.000 đồng nhưng chưa sang tên, chị H1 đã cung cấp biển kiểm soát và giấy đăng ký xe mang tên Phạm Viết T2. Cơ quan điều tra chuyển Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh để giải quyết theo quy định.

Tại Công văn số 8905/UBND-VP ngày 06/11/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố H xác định vụ “Cướp giật tài sản” của T và H2 đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn phường B, thành phố H.

Gia đình Nguyễn Văn T đã nộp 5.000.000 đồng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q để trả cho chị Nguyễn Thị Ngọc A và chị Bogumila S, nhưng cả hai đều không nhận và không yêu cầu gì.

Đối với Lê Công H2 (sinh ngày 28/11/2009) khi thực hiện hành vi phạm tội mới được 13 tuổi 09 tháng 16 ngày nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với chị Nguyễn Thị Ngọc A có hành vi mua bán 368 USD của Nguyễn Văn T và Lê Công H2 nhưng không biết đó là tài sản do T và H2 phạm tội mà có, nên hành vi không cấu thành tội phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Đơn trình báo, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định, Kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: khoảng 19 giờ 45 phút ngày 14/9/2023, tại đoạn vòng xuyến nhà nghỉ C1 - Bộ C2, thuộc Tổ D, Khu E, phường B, thành phố H, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô để Lê Công H2 ngồi sau giật chiếc ba lô của chị Bogumila S (bên trong ba lô gồm có 01 điện thoại Samsung S6 màu xanh có giá trị 1.398.000 đồng và 01 điện thoại Samsung M33 màu xanh giá trị 3.978.000 đồng, 1.200.000 đồng và 368 USD, 01 hộ chiếu). Tổng giá trị tài sản là 15.412.784 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo các điểm d, h khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số: 157/CT-VKSQN-P2 ngày 22/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, dùng thủ đoạn nguy hiểm để thực hiện hành vi phạm tội; tác động xấu đến trật tự trị an và an toàn cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu trong dư luận quần chúng nhân dân. Địa điểm cướp giật tài sản là khu du lịch lại nhằm vào khách du lịch người nước ngoài, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường du lịch và hình ảnh con người Việt Nam trong mắt du khách nước ngoài. Do đó, cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại khắc phục hậu quả, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Văn T sinh ngày 18/12/2007, khi thực hiện hành vi phạm tội cũng chưa đủ 16 tuổi; là người chưa thành niên phạm tội; nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của bị cáo về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để từ đó có mức hình phạt phù hợp nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 91 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã tác động gia đình nộp 5.000.000 đồng để trả cho chị Nguyễn Thị Ngọc A và chị Bogumila S, nhưng cả hai đều không nhận và không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý chí của họ. Giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh tạm giữ số tiền 5.000.000 đồng để giải quyết theo quy định pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số xe mô tô: 36E-417.71 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 36001240 của Công an huyện T, Thanh Hóa cấp ngày 18/02/2021; mặc dù khi bị cáo mượn xe của cháu Triệu Đức Q không nói cho cháu Q biết mục đích mượn xe là để thực hiện hành vi cướp giật tài sản nhưng xe do anh Phạm Viết T2 đứng tên chủ sở hữu. Anh T2 xác nhận đã bán chiếc xe mô tô trên cho một người Quảng Ninh không rõ lai lịch, địa chỉ. Hội đồng xét thấy cần giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q tiếp tục xác minh làm rõ và giải quyết theo quy định pháp luật.

[8] Về án phí: bị cáo chưa đủ 16 tuổi là trẻ em nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: các Điều 45, 46, 260 và 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Áp dụng điểm d, h khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 90; khoản 1 Điều 91; khoản 2 Điều 101 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2023.

2. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q giải quyết theo quy định pháp luật: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Trắng Đen Bạc + 01 chìa khóa xe, 01 biển số xe mô tô: 36E-417.71 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 36001240 của Công an huyện T, Thanh Hóa cấp ngày 18/02/2021.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 22 ngày 27 tháng 11 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh).

Giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh tạm giữ số tiền 5.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số: 0005452 ngày 27/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh để giải quyết theo quy định pháp luật.

3. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn T.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, đại diện theo ủy quyền của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND tỉnh QN;
  • - VKSND Cấp cao;
  • - Công an tỉnh QN;
  • - Sở Tư pháp tỉnh QN;
  • - THA, Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Trí Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 05/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Van T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger