|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 05/2024/HSST Ngày: 05-01-2024 |
1 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Thắng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vĩ
Bà Đỗ Thị Hương
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thu Trang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 315/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 20 23 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 310/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn H, Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1986, tại xã V, huyện S, Hà Nội. Nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện S, Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 9/12. Họ và tên cha: Nguyễn Văn T, đã chết. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1944, còn sống. Vợ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1988. Con: 02 con (con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2019). Nhân thân: 03 Tiền án: Ngày 17/6/2009, bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bản án số 358/2009/HSST). H đã chấp hành xong các quyết định của bản án và đã được xóa án. Ngày 28/4/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Hà Nội xử phạt Nguyễn Văn H 42 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (Bản án số 66/2011/HSST). Bị can đã chấp hành xong các quyết định của bản án và đã được xóa án. Ngày 09/01/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt Nguyễn Văn H 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009
2
(Bản án số 10/2015/HSST). Bị can đã chấp hành xong các quyết định của bản án và đã được xóa án. Tiền sự: Không; Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 28/8/2023 đến nay. Có mặt.
2. Người bị hại: Chị Lê Thị H1, sinh năm 1987, trú tại thôn X, xã T, huyện S, Hà Nội. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 09/8/2023, Nguyễn Văn H (sinh năm 1986, trú tại thôn T, xã V, huyện S, Hà Nội) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29P1-2148 đi đến khu vực Phố N, xã T, huyện S, Hà Nội chơi. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô đi về đến đường làng thuộc địa phận thôn X, xã T, huyện S, Hà Nội thì thấy chị Lê Thị H1 (sinh năm 1987, trú tại thôn X, xã T, huyện S, Hà Nội) điều khiển xe đạp điện đi theo hướng ngược lại, tay trái chị H1 cầm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax, màu xanh. Thấy vậy, H nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại của chị H1 nên H điều khiển xe mô tô quay lại, vượt lên áp sát bên trái song song với chị H1, dùng tay phải giật chiếc điện thoại của chị H1 rồi tăng ga điều khiển xe mô tô bỏ chạy ra đường Quốc lộ 3 hướng về ngã tư đèn xanh đèn đỏ B, xã T đi qua đường tàu lên đê T hướng về xã V. Đến khu vực thôn N, xã T, huyện S, Hà Nội, H dừng xe và bỏ điện thoại vừa cướp giật được ra kiểm tra thì có mật khẩu, H bấm thử mật khẩu là 123456 thì mở được. Sau đó, H tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về đến quán H4 tại thôn L, xã V gặp anh Nguyễn Văn H2 (sinh năm 1994, trú tại L, xã V, huyện S) là chủ cửa hàng, H bán chiếc điện thoại trên cho anh H2 với giá 6.000.000 đồng. Số tiền có được H đã sử dụng vào mục đích tiêu sài cá nhân hết. Sau khi mua chiếc điện thoại của H, anh H2 bán lại cho anh Nguyễn Công T2 (sinh năm 2003, trú tại thôn L, xã V, huyện S, Hà Nội) với giá 9.000.000 đồng. Sau đó, anh T2 bán lại chiếc điện thoại cho một cửa hàng điện thoại ở thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh với giá 8.500.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 329 ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, trị giá 11.863.000 đồng.
Việc thu giữ, xử lý vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 29P1-2148. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu xe mô tô là bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1964, trú tại thôn T, xã V, huyện S, Hà Nội. Ngày 09/8/2023, bà H3 cho H mượn chiếc xe mô tô trên để sử dụng. Bà H3 không biết và không đồng ý cho H sử dụng xe mô tô để đi cướp giật tài sản. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô cho bà H3.
3
Về dân sự: Gia đình bị can H đã bồi thường cho chị Lê Thị H1 số tiền 12.700.000 đồng để khắc phục hậu quả. Nay chị H1 không có yêu cầu gì về dân sự. Ngày 11/11/2023, chị H1 viết đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với H.
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Văn H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại cáo trạng số 277/VKS-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Cướp giật tài sản” theo Điển d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điển d Khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS xử phạt: Nguyễn Văn H với mức án từ 3 năm 06 tháng đến 4 năm tù.
- - Về phần dân sự: các bên đã giải quyết xong, không còn yêu cầu gì nên không phải đặt ra để giải quyết.
- - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- * Bị cáo Nguyễn Văn H thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo đều khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 09/8/2023, tại thôn X, xã T, huyện S, Hà Nội, Nguyễn Văn H đã có hành vi điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave, BKS: 29P1 – 2148, cướp giật 01 điện thoại Iphone 11 Promax của chị Lê Thị H1, trị giá 11.863.000 đồng.
4
- Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, lời khai của người bị hại, người làm chứng, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những căn cứ trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điển d Khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Điều 171. Tội cướp giật tài sản
“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
...
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm”.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- [4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- [4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại; Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách táo bạo và liều lĩnh, ngay trên đường phố có đông người qua lại, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo.
- Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, cũng xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động đến gia đình bồi thường cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên giảm một phần hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về phần bồi thường dân sự: Đã được giải quyết xong các bên không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5
- Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “ Cướp giật tài sản ”.
Căn cứ vào:
- - Điển d Khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự.
- - Căn cứ vào các Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Xử phạt: Nguyễn Văn H 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2023.
- Về phần dân sự: Các bên đã giải quyết xong không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
- Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.
- Án xử công khai, sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Thịnh Quang Thắng |
6
Bản án số 05/2024/HSST ngày 05/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp giật tài sản
- Số bản án: 05/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 14 giờ ngày 09/8/2023, tại thôn Xuân S, xã Trung G, huyện S, Hà Nội, Nguyễn Văn H đã có hành vi điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave, BKS: 29P1 – 2148, cướp giật 01 điện thoại Iphone 11 Promax của chị Lê Thị H1, trị giá 11.863.000 đồng.
