TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 05/2024/HS-ST Ngày 04-01-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Yến
2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 714/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 706/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023, đối với:
- Bị cáo: Trương Hoàng V (tên gọi khác: Không), sinh năm 1985 tại Hà Nội; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: E T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên cha: Trương Phú T; họ tên mẹ: Nguyễn Thị Ngọc H; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; họ tên vợ: Đinh Thị D, sinh năm 1990 (đã ly hôn), bị cáo chưa có con.
Tiền án: Ngày 17/7/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Hiếp dâm” theo Bản án số 361/2020/HS-ST.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 15/7/2003, bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 299/HSST.
- - Ngày 08/7/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 139/HSST.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/8/2023, chuyển tạm giam từ ngày 26/8/2023 theo Lệnh tạm giam số 1382/LTG-CSĐT ngày 25/8/2023, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Anh Lê Văn T1, sinh năm 1999; địa chỉ: 4, tổ B, khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Minh T2, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Nội dung chính của vụ án:
Khoảng 2 giờ 00 phút ngày 13/8/2023, Trương Hoàng V rủ Bùi Văn Q, sinh năm 1994, Hộ khẩu thường trú: xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp đi trộm cắp tài sản thì Q đồng ý. V điều khiển xe môtô hiệu YAMAHA Nozza biển số 60B8-158.10 chở Quít đến khu vực thuộc phường L, thành phố B để tìm tài sản trộm cắp, khi đến dãy phòng trọ tại địa chỉ 481/1/9 tổ B, khu phố F, phường L, thành phố B thì V phát hiện cửa phòng trọ số 7 do anh Lê Văn T1 thuê trọ có khe hở nên V ra hiệu cho Q dừng lại, do sợ Q tạo ra tiếng động nên V nói Q đi ra cây xăng ở gần dãy trọ đứng chờ. V đưa tay vào bên trong ô cửa mở chốt đi vào phòng trọ và lấy trộm 01 (một) máy tính xách tay hiệu DELL i3 mang ra cất vào xe. Sau khi trộm cắp được tài sản V chạy đi tìm Q nhưng không thấy nên V điều khiển xe máy đến nhà nghỉ cách nơi V trộm máy tính xách tay khoảng 500m thuê phòng, V mở máy tính thì phát hiện máy có cài mật khẩu và không có dây sạc nên V đi bộ đến phòng trọ số 7 tiếp tục trộm cắp 01 (một) dây sạc, cục sạc và 01 (một) con chuột của máy tính xách tay, 01 (một) đồng hồ điện tử nhãn hiệu Apple Wacth series 8 và số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) của anh Lê Văn T1 thì bị anh T1 phát hiện, truy đuổi nhưng V chạy thoát về nhà nghỉ mình đã thuê. Đến khoảng 5 giờ 30 phút cùng ngày, V nhờ Lê Tiến N, sinh năm 1988, HKTT: khu phố H, phường T, thành phố B tìm chỗ để bán máy tính xách tay đã trộm cắp được. V và N đến cửa hàng điện thoại Minh T2 tại địa chỉ 3 đường H, khu phố A, phường T, thành phố B do Phạm Minh T2 làm chủ, bán máy tính xách tay hiệu D1 i3 với giá 1.7000.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng), V tiêu xài cá nhân hết 260.000 đồng (Hai trăm sáu mươi nghìn đồng), còn lại số tiền 1.440.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng) Việt cất giữ trong người. Sau đó, V về nhà của anh Vũ Xuân A tại địa chỉ 3, khu phố A, phường T, thành phố B (nơi V đang ở nhờ) cất giấu đồng hồ APPLE Watch series 8.
Sự việc được Công an phường L, thành phố B lập hồ sơ chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B theo thẩm quyền. Tại Cơ quan điều tra, Trương Hoàng V khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu ở trên.
Vật chứng gồm:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu S J700, 01 (một) bóp da màu đen, 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Trương Hoàng V. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho Trương Hoàng V.
- 01 (một) máy tính xách tay hiệu D1 i3, 01 (một) đồng hồ APPLE series 8. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho anh Lê Văn T1.
- 01 (một) xe mô tô hiệu YAMAHA Nozza biển số 60B8-158.10.
- Số tiền 1.440.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng). Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho Phạm Minh T2.
- 01 (một) dây sạc, 01 (một) cục sạc, 01 (một) con chuột (đã hư hỏng, không sử dụng được). Cơ quan sánh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản 440/KL-HĐĐGTS ngày 21/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 (một) máy tính xách tay Dell i3 trị giá 1.560.000 đồng (Một triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng); 01 (một) đồng hồ đeo tay APPLE watch series 8 trị giá 7.272.000 đồng (Bảy triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
Về dân sự: Ông Lê Văn T1, ông Phạm Minh T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Trương Hoàng V bồi thường.
2. Truy tố:
Tại Cáo trạng số: 704/CT-VKSBH ngày 21/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố Trương Hoàng V về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;
- + Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Trương Hoàng V từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
3. Các vấn đề khác:
- - Đối với xe môtô nhãn hiệu YAMAHA Nozza biển số biển số 60B8-158.10: trong quá trình điều tra đã xác minh được chị Huỳnh Thanh T3 đứng tên đăng ký chủ xe, tuy nhiên, chị T3 không có mặt tại địa phương, nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được với chị T3 nên tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
- - Đối với Bùi Văn Q là đối tượng cùng Trương Hoàng V đi trộm cắp tài sản: Cơ quan điều tra chưa làm việc được với Q nên tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau.
- - Đối với hành vi của Phạm Minh T2 đã mua 01 (một) máy tính xách tay hiệu Dell i3 của Trương Hoàng V: khi T2 mua máy tính xách tay này không biết đây là tài sản do bị cáo V trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với T2 về hành vi này.
- - Đối với hành vi của Nguyễn Tiến N1 đưa V đi bán máy tính xách tay hiệu Dell i3: N1 không biết đây là tài sản V thực hiện hành vi trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với N1 về hành vi này.
4. Ý kiến của những người tham gia tố tụng:
- - Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày trong hồ sơ vụ án: Tài sản đã nhận lại nên không yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự; đối với trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- - Lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, các bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, các bị hại đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt trên không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 13/8/2023, tại địa chỉ 481/1/9 tổ B, khu phố F, phường L, thành phố B Trương Hoàng V đã có hành vi trộm cắp tài sản của anh Lê Văn T1 là 01 (một) máy tính xách tay hiệu D1 i3, 01 (một) đồng hồ hiệu Apple Watch series 8 và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền mặt. Trị giá tài sản V đã trộm cắp là 9.132.000 đồng (Chín triệu một trăm ba mươi hai nghìn đồng).
- Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo không có nghề nghiệp, mặc dù đang trong độ tuổi lao động nhưng lại lười lao động, không chịu dùng chính sức lao động của mình để tạo thu nhập nuôi sống bản thân mà lại thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác để có tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo đã nhiều lần bị xử lý về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng lại không lấy đó làm bài học sâu sắc để rút kinh nghiệm cho bản thân. Bị cáo biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.
- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Trương Hoàng V phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản Cáo trạng số 704/CT-VKSBH ngày 21/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Trương Hoàng V về tội “Trộm cắp tài sản” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Hiếp dâm” chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này được xác định là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi, trả lại cho chủ sở hữu nên gây thiệt hại không lớn thuộc trường hợp được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Trương Hoàng V để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
[3] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:
Bị hại ông Lê Văn T1, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Minh T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét, giải quyết.
[4] Về các vấn đề khác:
- - Đối với xe môtô nhãn hiệu YAMAHA Nozza biển số biển số 60B8-158.10: Trong quá trình điều tra đã xác minh được chị Huỳnh Thanh T3 đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, chị T3 không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra chưa làm việc được với chị T3 nên tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
- - Đối với Bùi Văn Q là đối tượng cùng Trương Hoàng V đi trộm cắp tài sản: Cơ quan điều tra chưa làm việc được với Q nên tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
- - Đối với hành vi của Phạm Minh T2 đã mua 01 (một) máy tính xách tay hiệu Dell i3 của Trương Hoàng V: Khi T2 mua máy tính xách tay này không biết đây là tài sản do bị cáo V trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với T2 về hành vi này là phù hợp với quy định của pháp luật.
- - Đối với hành vi của Nguyễn Tiến N1 đưa V đi bán máy tính xách tay hiệu Dell i3: N1 không biết đây là tài sản V thực hiện hành vi trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với N1 về hành vi này là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Về vật chứng:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu S J700, 01 (một) bóp da màu đen, 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Trương Hoàng V. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho Trương Hoàng V là phù hợp với quy định của pháp luật.
- - 01 (một) máy tính xách tay hiệu D1 i3, 01 (một) đồng hồ APPLE series 8: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho anh Lê Văn T1.
- - Số tiền 1.440.000 đồng (một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng): Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho anh Phạm Minh T2.
- - 01 (một) dây sạc, 01 (một) cục sạc, 01 (một) con chuột (đã hư hỏng, không sử dụng được): Cơ quan sánh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được nên không xử lý đối với các vật chứng này.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo Trương Hoàng V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:
- - Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nên được chấp nhận.
- - Đối với trình bày của bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52 và điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Trương Hoàng V 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 17 tháng 8 năm 2023.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trương Hoàng V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Duyên |
Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 05/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
