Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HS-ST

Ngày 04 tháng 01 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tư

Bà Hoàng Thị Hồng

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Vi Xuân Vượng - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 261/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 266/2023/QĐXXST-HS ngày 19/12/2023 đối với bị cáo:

Phạm Mạnh H, sinh năm 1982; Tên gọi khác: Không.

- ĐKHKTT: Tổ dân phố Q (nay là Tổ dân phố Đ), thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Nơi ở: Số F, ngõ C, đường B, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hóa: 12/12. Bố: Phạm Văn C, sinh năm 1952 (đã chết). Mẹ: Bùi Thị M, sinh năm 1955. Gia đình có 02 anh em, bản thân là thứ hai. Vợ: Đồng Thị D, sinh năm 1993. Con: 02 con, lớn sinh năm 2007 (con riêng), nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

  • + Quyết định xử phạt hành chính số 42 ngày 05/02/2023, Công an thành phố B xử phạt Phạm Mạnh H 4.000.000 đồng về hành vi tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác. Chấp hành xong ngày 05/12/2023.
  • + Bản án số 54/2023/HS-ST ngày 11/4/2023 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt Phạm Mạnh H 05 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Chấp hành xong án phí vào tháng 6/2023, chấp hành xong phần bồi thường dân sự ngày 15/8/2023.

Bị cáo đầu thú, hiện đang chấp hành bản án số 54/HSST ngày 11/4/2023 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang tại Đội 32, phân trại 1, K, Trại giam N, Cục C2 - Bộ C3 - Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

  • - Bùi Văn C1, sinh năm 1982 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Khu C, phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
  • Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
  • - Đồng Văn K, sinh năm 1989 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số F, đường H, tổ dân phố T, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
  • - Bùi Văn Q, sinh năm 1990 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  • Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T1, Cục C2, Bộ C3.
  • - Nguyễn Đức V, sinh năm 1993 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang
  • Hiện đang chấp hành án tại Trại giam T2, Cục C2, Bộ C3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 14 giờ 15 phút ngày 08/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành P, tỉnh Bắc Giang khám xét chỗ ở của Phạm Mạnh H, sinh 1982, ở số nhà F, ngõ C, đường B, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, kết quả khám xét thu giữ: 01 dao bấm; 07 vật rắn dạng roi, quấn băng dính màu đen; 01 côn màu đen; 01 con dao kim loại chuôi bằng gỗ; 01 thanh đao bằng kim loại và 38.250.000 đồng; thu giữ tại khu vực khe tường giáp ranh với số nhà H, ngõ C, đường B, phường L, thành phố B: 01 đoạn ống nhựa hình trụ, bịt kín 2 đầu, bên trong đoạn ống nhựa chứa 01 vật nghi súng, kích thước dài 56cm.

Kết luận giám định số 190 ngày 03/2/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Vật hình dạng khẩu súng gửi giám định là súng tự chế, dài 56cm, bắn đạn ghém cỡ 13mm, thuộc vũ khí quân dụng, còn sử dụng để bắn được, khi sử dụng bắn đạn vào cơ thể người gây chết hoặc bị thương.

Căn cứ kết quả điều tra, ngày 08/01/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã khởi tố Phạm Mạnh H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Ngày 05/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B khởi tố vụ án “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Ngày 21/9/2023, Viện KSND thành phố B đã ra Quyết định chuyển vụ án Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 14/11/2023, khi làm việc với Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B, Phạm Mạnh H đầu thú và khai nhận như sau:

Năm 2013, Phạm Mạnh H thuê nhà số F, ngõ C, đường B, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang của bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1952 ở số D ngõ A đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang để ở cùng vợ là Đồng Thị D, sinh năm 1993, nơi đăng ký NKTT: Tổ dân phố Đ, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Từ năm 2017 đến cuối năm 2019 có Hà Văn B, sinh năm 1989, ở xã T, huyện L; Nguyễn Đức V, sinh năm 1993, Đinh Văn Q1, sinh năm 1990 đều ở thôn D, xã T, huyện L; Bùi Văn C1, sinh 1982 ở khu C, phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Đồng Văn K, sinh năm 1989 ở số nhà F đường H, phường Đ, thành phố B thường xuyên đến ăn, ở cùng và làm cho H trong lĩnh vực khai thác đất và san lấp mặt bằng.

Năm 2017, trong quá trình khai thác mỏ đất ở xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Hà nhặt được 01 khẩu súng tự chế có chiều dài 56cm, nòng súng dài 38cm, báng súng bằng gỗ màu đen. H mang về nhà lau chùi rồi quấn kín dẻ cất giấu ở góc phòng ngủ của H. Do thấy khẩu súng đã cũ, bị han rỉ nên khoảng giữa năm 2018, H tìm và nhờ được một người thanh niên ở huyện L mang khẩu súng về kiểm tra, sửa chữa. Sau khi kiểm tra xong, người thanh niên này mang súng xuống nhà đưa lại cho H và bảo khẩu súng vẫn dùng được. Sau khi nhận lại khẩu súng, H bảo Nguyễn Đức V tìm cách cất khẩu súng cho đỡ bị han và tìm địa điểm ở ngoài khu vực chỗ ở để cất giấu khẩu súng, V đi mua 01 đoạn ống nhựa hình trụ, màu xanh, dài 60cm, đường kính 10cm, có nắp đậy hai đầu, một đầu có thể mở được, đút khẩu súng vào trong ống nhựa và cất ở khu vực khe tường giáp ranh với nhà số H rồi thông báo lại cho H biết. Để không bị han rỉ, trong thời gian năm 2018, H thường bảo V mang khẩu súng ra lau chùi. Đến cuối năm 2018, V bị bắt về tội giết người thì thỉnh thoảng H bảo Q1, K bỏ súng ra lau chùi. Từ khoảng năm 2020, do không có việc làm nên Q1, K không ở tại nhà H nữa mà chỉ thỉnh thoảng xuống chơi. Khẩu súng của H vẫn để trong ống nhựa và cất giấu ở khe tường giáp ranh với nhà số H cho đến khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B khám xét, thu giữ.

Kết quả xác định hiện trường cất giấu khẩu súng, phù hợp với lời khai nhận của H như đã nêu trên.

Đối với hành vi tàng trữ một số vũ khí thô sơ và số tiền thu giữ khi khám xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bắc Giang xử lý trong vụ án Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Đối với Nguyễn Đức V có hành vi giúp sức cho H trong việc cất giấu khẩu súng (mua ống nhựa cất giấu và lau chùi khẩu súng). Tuy nhiên, thời điểm V thực hiện các hành vi đó là trong khoảng thời gian năm 2017-2018; theo quy định của Luật Vũ khí quân dụng năm 2017 thì khẩu súng thu giữ của H không thuộc danh mục vũ khí quân dụng. Do đó, Cơ quan ANĐT Công an tỉnh B không xem xét xử lý V về hành vi đồng phạm với H trong việc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là có căn cứ.

Đối với Đinh Văn Q1 và Đồng Văn K có hành vi lau chùi khẩu súng cho H: Quyết, K đều khai thời điểm được H bảo lau chùi súng là khoảng năm 2018-2019 (Luật Vũ khí quân dụng năm 2017 quy định khẩu súng của H không thuộc vũ khí quân dụng). H khai chỉ nhớ bảo Q1, K lau chùi súng, không nhớ thời điểm cụ thể. Do vậy, chưa đủ căn cứ để xem xét xử lý đối với Q1, K về hành vi đồng phạm với H tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.

Đối với Bùi Văn C1 nhìn thấy V, Q1, K lau chùi khẩu súng, nhưng Công khai không biết đó là súng gì, không tham gia giúp sức cho H trong việc cất giấu khẩu súng nên không có căn cứ để xử lý.

Về vật chứng: 01 khẩu súng tự chế, dài 56cm, bắn đạn ghém cỡ 13mm, thuộc vũ khí quân dụng, được niêm phong trong ống nhựa hình trụ màu xanh, có lắp đậy ở hai đầu, hiện đang được tạm giữ, bảo quản tại Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B.

Bản cáo trạng số 01/CT-VKS-P1 ngày 11/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Mạnh H2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai người làm chứng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 56 của Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Phạm Mạnh H từ 01 năm 08 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp Bản án số 54/2023/HS-ST ngày 11/4/2023 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt Phạm Mạnh H 05 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 06 năm 08 tháng tù đến 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  • - Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 63; Điều 64; Điều 66; Điều 73 Luật quản lý, sử dụng vũ khí vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
  • Tịch thu giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B lý nhập kho vật chứng 01 khẩu súng tự chế, dài 56cm, nòng súng dài 38cm, báng súng bằng gỗ màu đen, được niêm phong trong ống nhựa hình trụ màu xanh, có lắp đậy ở hai đầu theo thẩm quyền.
  • - Án phí căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Bị cáo Phạm Mạnh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát viên nhân dân tỉnh Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và vật chứng thu giữ được có đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 15 phút ngày 08/01/2023, khi thực hiện việc khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Mạnh H, sinh năm 1982 ở số F, ngõ C, đường B, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang để phục vụ công tác điều tra hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tỉnh Bắc Giang phát hiện và thu giữ tại khe tường giáp ranh với số nhà H: 1 khẩu súng tự chế, dài 56cm, bắn đạn ghém cỡ 13mm, thuộc vũ khí quân dụng do H cất giấu, tàng trữ.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Phạm M1 Hà về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý về vũ khí quân dụng của Nhà nước, việc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương và là nguyên nhân dẫn đến một số loại tội phạm nguy hiểm khác, vì thế hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật.

[4]. Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã bị Công an thành phố B xử phạt về hành vi tàng trữ, cất giấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác và tại Bản án số 54/2023/HS-ST ngày 11/4/2023 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi và tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã không nhận thức được việc làm của mình phạm tội với lỗi cố ý, chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật. Vì vậy cần có một mức án là hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng giáo giục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, vừa có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Căn cứ Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp Bản án số 54/2023/HS-ST ngày 11/4/2023 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định của pháp luật.

[5]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải và đầu thú trước Cơ quan điều tra đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7]. Đối với Nguyễn Đức V có hành vi giúp sức cho Phạm Mạnh H trong việc cất giấu khẩu súng. Tại thời điểm V thực hiện các hành vi đó là trong khoảng thời gian năm 2017-2018, theo quy định của Luật Vũ khí quân dụng năm 2017 thì khẩu súng thu giữ của H không thuộc danh mục vũ khí quân dụng. Do đó, Cơ quan ANĐT Công an tỉnh B không xem xét xử lý V về hành vi đồng phạm với H trong việc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là có căn cứ.

[8]. Đối với Đinh Văn Q1 và Đồng Văn K có hành vi lau chùi khẩu súng cho H. Quyết, K đều khai thời điểm được H bảo lau chùi súng là khoảng năm 2018-2019, theo quy định của Luật Vũ khí quân dụng năm 2017 quy định khẩu súng của H không thuộc vũ khí quân dụng. H khai chỉ nhớ bảo Q1, K lau chùi súng, không nhớ thời điểm cụ thể. Do vậy, chưa đủ căn cứ để xem xét xử lý đối với Q1, K về hành vi đồng phạm với H tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng là có căn cứ.

[9]. Đối với Bùi Văn C1 nhìn thấy V, Q1, K lau chùi khẩu súng, nhưng Công khai không biết đó là súng gì, không tham gia giúp sức cho H trong việc cất giấu khẩu súng nên không có căn cứ để xử lý.

[10]. Về vật chứng: 01 khẩu súng tự chế, dài 56cm, nòng súng dài 38cm, báng súng bằng gỗ màu đen, được niêm phong trong ống nhựa hình trụ màu xanh, có lắp đậy ở hai đầu cần tịch thu để giao Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bắc Giang để quản lý nhập kho vật chứng và xử lý theo thẩm quyền.

[11]. Về hình phạt bổ sung, bị cáo là người không có nghề nghiệp không có thu nhập, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[12]. Về án phí: Bị cáo Phạm Mạnh H3 chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[13]. Về quyền kháng cáo bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 56 điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 63; Điều 64; Điều 66; Điều 73 Luật quản lý, sử dụng vũ khí vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Xử phạt bị cáo Phạm Mạnh H 01 (Một) năm 8 (T) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp Bản án số 54/2023/HS-ST ngày 11/4/2023 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt Phạm Mạnh H 05 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 (Sáu) năm 8 (T) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
  2. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  3. Vật chứng: Tịch thu giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B quản lý nhập kho vật chứng 01 khẩu súng tự chế, dài 56cm, nòng súng dài 38cm, báng súng bằng gỗ màu đen, được niêm phong trong ống nhựa hình trụ màu xanh, có lắp đậy ở hai đầu theo thẩm quyền.
  4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - CQANĐT Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 05/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger